Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƢỜI VÀ HIẾN PHÁP 1. Vai trò của quyền con ngƣời với sự ra đời và phát triển của hiến pháp Hiến pháp và quyền con người luôn có mối quan hệ mật thiết. Hiến pháp và pháp luật ra đời do nhu cầu về việc bảo vệ quyền con người và cho đến nay, Hiến pháp và pháp luật vẫn được coi là những công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Ngay trong bản thân hai khái niệm này đã thể hiện sự liên quan không thể tách rời giữa chúng với nhau.
Quyền con người Quyền con người là một khái niệm có nhiều định nghĩa. Tuy nhiên, không có định nghĩa nào được coi là bao hàm đầy đủ khái niệm vốn đa diện này. Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa thường hay được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu là định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc. Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người [14, tr.
Bên cạnh định nghĩa trên,còn có một định nghĩa khác mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên, cũng thường được trích dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người [14, tr. Ở Việt Nam, một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia cũng nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, theo những định nghĩa này, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [14, tr. Mặc dù vậy, xét ở bất cứ góc độ và cấp độ nào, quyền con người đều được xác định là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng với mọi thành viên trong gia đình nhân loại, nhằm bảo vệ nhân phẩm và tạo điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người [14, tr.
Có hai quan điểm trái ngược nhau về nguồn gốc của quyền con người. Một là những quan điểm dựa trên học thuyết về quyền tự nhiên (natural right), hai là những quan điểm dựa trên học thuyết về quyền pháp lý (legal right). Theo học thuyết về quyền tự nhiên, quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng vì họ là thành viên trong gia đình nhân loại. Vì thế, quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào cũng như không thể bị tước bỏ hay được ban phát từ bất kì chủ thể nào kể cả nhà nước [14, tr.
Ngược lại, học thuyết về các quyền pháp lý lại cho rằng, quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật. Như vậy, quyền con người luôn có phạm vi, giới hạn và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa. của các xã hội [14, tr. Quyền con người do đó có thể được ban phát và cũng có thể bị tước bỏ.
Cho đến nay, cuộc tranh luận về nguồn gốc của quyền con người vẫn còn tiếp tục. Tuy nhiên, quyền con người được khẳng định là quyền tự nhiên trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất cơ bản như sau: (1) Tính phổ biến (universal) Tính phổ biến, hay còn gọi là tính phổ quát của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người.
Ở đây, mọi thành viên của nhân loại đều có được công nhận có các quyền con người, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… mà người đó đang sống [14, tr. (2) Tính không thể tước bỏ (inalienable) Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Như vậy, quyền con người vẫn có thể bị tước bỏ,hạn chế trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật. Liên quan đến tính chất này, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa việc tước bỏ một cách tùy tiện với việc tước bỏ, hạn chế theo quy định của pháp luật [14, tr.
(3) Tính không thể phân chia (indivisible) Tính không thể phân chia thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, trong từng bối cảnh cụ thể, có những quyền có thể cần được ưu tiên thực hiện. Ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế; … Ở góc độ khác, trong một số hoàn cảnh nhất định, việc ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương không có nghĩa những quyền này có giá trị cao hơn các quyền khác hay nhóm đối tượng này được ưu tiên hơn các nhóm khác.
Sự ưu tiên này là nhằm tạo điều kiện bình đẳng cho các nhóm yếu thế trong xã hội có thể thực hiện quyền của mình một cách bình đẳng [14, tr. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người thể hiện ở các quyền con người đều nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.
Ví dụ, những vi phạm về quyền lao động cá nhân, đặc biệt là về vấn đề thù lao có thể ảnh hưởng đến quyền có mức sống thích đáng của cá nhân đó [14, tr. Hiến pháp Hiến pháp là thuật ngữ được nhân loại sử dụng từ rất lâu trong lịch sử. Từ thời cổ đại, triết gia nổi tiếng Aristotle đã định nghĩa hiến pháp là “cách thức tổ chức cơ cấu chính quyền trong một nước, cách thức phân bố quyền lực được ấn định, chủ quyền tối thượng được xác định, và mục tiêu tối hậu của quốc gia mà mọi cơ quan và toàn thể dân chúng nhắm tới” [16, tr. Nói một cách khác, hiến pháp là cơ sở, trên đó mọi luật pháp của quốc gia được ban hành.
Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tất cả các văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với hiến pháp. Sở dĩ hiến pháp có vị trí tối cao là vì nó phản ánh chủ quyền của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân. Về nguyên tắc, hiến pháp phải do nhân dân thông qua dưới hình thức hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu dân ý.
Điều này khác với các đạo luật bình thường mà chỉ do quốc hội thông qua. Sự ra đời của hiến pháp với tính chất là đạo luật cơ bản xuất hiện khi giai cấp tư sản giành chính quyền trong cuộc đấu tranh chống lại nhà nước chuyên chế phong kiến. Trong cuộc đấu tranh này, đầu tiên, giai cấp tư sản đã đạt được những thành tựu trong việc hạn chế quyền lực của vương triều phong kiến bằng việc thành lập cơ quan gọi là nghị viện tồn tại bên cạnh vua, hoặc thành lập một chế độ cộng hòa thừa nhận quyền của các công dân có tài sản. Văn bản có tính chất hiến pháp đầu tiên có tên gọi là: “Hình thức cai quản nhà nước Anh, Scotland, Iceland…” (1653).
Đây là kết quả của cuộc cách mạng tư sản Anh. Sau khi Hợp chúng quốc Hoa kỳ được thành lập năm 1787, nước này cũng đã ban hành một bản Hiến pháp mà được coi là văn bản hiến pháp hiện đại đầu tiên của nhân loại, vẫn còn được áp dụng đến ngày nay [2, tr. Khái niệm Hiến pháp có thể được hiểu theo những cách khác nhau, phụ thuộc vào những ngữ cảnh khác nhau. Có 4 cách hiểu cơ bản về Hiến pháp: thuật ngữ Hiến pháp, đạo luật cơ bản, ngành luật Hiến pháp, ngành khoa học pháp lý.
Tuy nhiên, theo các hiểu thông thường nhất, Hiến pháp là đạo luật cơ bản do cơ quan quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền ban hành, thường gọi là Quốc hội lập hiến, quy định việc tổ chức nhà nước, cơ cấu, thẩm quyền các cơ quan nhà nước và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân [2, tr. Hiến pháp theo cách hiểu cơ bản nhất là đạo luật cơ bản của quốc gia, xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân [4, tr. Như vậy, Hiến pháp ra đời chính là do nhu cầu bảo vệ một nền dân chủ vì quyền con người. Ngay từ thời cổ đại, đã có những văn bản có tính hiến pháp đề cập đến quyền con người như Bộ luật Hammurabi (1810 - 1750 TCN) ở Babylon; Đại 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.