Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ca cao được đưa vào phát triển tại Việt Nam từ năm 2006, tuy nhiên diện tích canh tác và sản lượng qua các năm thiếu tính ổn định. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc giá hạt ca cao lên men biến động mạnh; điển hình vào năm 2013, giá thu mua giảm sâu xuống mức 40.000 đồng/kg khiến nhiều nông dân chặt đốn vườn cây. Đến thời điểm năm 2015, giá hạt ca cao lên men đạt khoảng 55.000 đồng/kg, tương ứng doanh thu từ 55 đến 65 triệu đồng trên một tấn hạt khô. Trong khi đó, nếu chế biến sâu thành sản phẩm chocolate thương phẩm, giá trị kinh tế có thể đạt từ 600 đến 800 triệu đồng/tấn (tăng hơn 400% giá trị gia tăng). Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã quy hoạch diện tích ca cao đạt 50.000 ha vào năm 2020 nhằm đưa cây ca cao thành cây trồng chủ lực. Do đó, việc nghiên cứu làm chủ công nghệ chế biến chocolate từ nguồn nguyên liệu nội địa là yêu cầu thực tiễn cấp bách.

Về tình hình nghiên cứu, công nghệ sản xuất chocolate trên thế giới đã phát triển lâu đời thông qua các tài liệu kỹ thuật của Stephen T. Beckett hay Emmanuel Ohene Afoakwa. Tuy nhiên, các thông số công nghệ chi tiết thường thuộc sở hữu độc quyền của các tập đoàn đa quốc gia. Tại Việt Nam thời điểm 2015, dù có một số doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường (Puratos Grand-Place, Socola Marou, Ca cao Nam Trường Sơn), các công trình nghiên cứu học thuật công bố quy trình công nghệ sản xuất chocolate sữa chuẩn hóa từ hạt ca cao lên men vẫn chưa xuất hiện.

Đồ án tốt nghiệp "Xây dựng quy trình sản xuất chocolate sữa từ nguồn nguyên liệu hạt ca cao Việt Nam lên men ở quy mô phòng thí nghiệm" của tác giả Nguyễn Hải Hồ (ngành Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, 2015) được thực hiện với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Tạo ra dòng sản phẩm chocolate sữa chất lượng cao, giữ lại tối đa hương vị đặc trưng và giá trị dinh dưỡng tự nhiên của hạt ca cao lên men Việt Nam, góp phần gia tăng giá trị chuỗi sản xuất nông sản.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Tiến hành thí nghiệm thăm dò nhằm khảo sát các nhân tố ảnh hưởng chính trong quy trình công nghệ.
    • Xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu giữa đường saccharose và sữa bột gầy cho sản phẩm chocolate sữa.
    • Khảo sát ảnh hưởng của các chế độ nhiệt trong quá trình xử lý nhiệt (tempering) đến cấu trúc và hương vị sản phẩm.
    • Khảo sát ảnh hưởng của thời gian trong các giai đoạn làm lạnh đến cấu trúc và hiện tượng sai hỏng bề mặt của chocolate.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng: Hạt ca cao lên men thu hoạch tại huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; đường xay Biên Hòa; sữa bột gầy; bơ ca cao; chất nhũ hóa Soya lecithin (Mỹ).
    • Phạm vi thời gian và không gian: Đề tài triển khai từ tháng 03/2015 đến tháng 07/2015 tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ Thực phẩm (Cơ sở 3), Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng

Nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học về chuyển hóa sinh hóa và cấu trúc tinh thể chất béo trong công nghệ sản xuất chocolate:

  • Biến đổi sinh hóa trong chế biến: Phản ứng thủy phân lipid tạo tiền chất hương; phản ứng Maillard giữa đường khử và acid amin hình thành màu sắc, hương vị đặc trưng; phản ứng oxy hóa-khử chuyển hóa polyphenol giảm vị chát; quá trình bay hơi ẩm và các acid dễ bay hơi (acid acetic).
  • Trạng thái đa hình của bơ ca cao: Bơ ca cao gồm 3 acid béo chủ yếu (acid oleic ~35%, acid stearic ~34%, acid palmitic ~26%), có 6 dạng tinh thể với nhiệt độ nóng chảy khác nhau: dạng I (12°C), dạng II (21°C), dạng III (26°C), dạng IV (28°C), dạng V (34°C - dạng $\beta_2$), và dạng VI (36°C - dạng $\beta_1$). Quá trình tempering nhằm định hướng hình thành tinh thể dạng V ổn định, tạo độ bóng và cấu trúc mịn, tránh hiện tượng nở hoa chất béo (fat bloom) và nở hoa đường (sugar bloom).
  • Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật:
    • Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7519:2005 về hạt ca cao.
    • Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6959:2001 về đường saccharose tinh luyện.
    • Tiêu chuẩn Codex 87-1981 về giới hạn sử dụng chất phụ gia trong chocolate.
    • Phương pháp đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 và phương pháp phân tích tiêu chuẩn IUPAC, IOCCC.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố trong phòng thí nghiệm:

  • Thiết bị và dụng cụ: Tủ sấy, máy sấy ẩm hồng ngoại, bể điều nhiệt, tủ lạnh bảo quản, máy đo pH, bộ chiết Soxhlet, cối nghiền thô, cối đá nghiền mịn, máy phối trộn, nhiệt kế điện tử.
  • Phương pháp phân tích và đánh giá:
    • Kiểm tra chất lượng nguyên liệu hạt: Đo độ ẩm, hàm lượng tanin, hàm lượng vỏ lụa, phương pháp cắt hạt (cut-test) kiểm tra mức độ lên men, đếm số hạt trên 100g.
    • Phép thử cảm quan tam giác (Triangle test) với hội đồng 6 cảm quan viên (3 lần lặp lại = 18 lượt đánh giá) nhằm so sánh mẫu thử nghiệm với sản phẩm thương mại đối chứng.
    • Đánh giá cảm quan thị hiếu theo phương pháp cho điểm (TCVN 3215-79).
    • Xác định tính chất vật lý: Đo thời gian giữ cấu trúc/nóng chảy ở 30°C; đếm tỷ lệ sản phẩm hư hỏng (nở hoa béo, đọng sương bề mặt) trên 10 mẫu thử.
  • Xử lý số liệu thống kê: Dữ liệu thực nghiệm được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel và Statgraphics 15.2; sử dụng phân tích phương sai ANOVA và kiểm định đa khoảng LSD (Least Significant Difference) ở mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý luận và kỹ thuật chuyên ngành về sản phẩm chocolate sữa:

  • Khái niệm và lịch sử: Chocolate sữa ra đời năm 1875 bởi Daniel Peter; quy định chuẩn quốc tế yêu cầu hàm lượng ca cao lỏng tối thiểu đạt 25%.
  • Thành phần hóa học của hạt ca cao lên men: Độ ẩm (2–5%), chất béo (48–57%), protein (11–16%), tro (2,6–4,2%), nitơ tổng (2,1–3,2%), theobromine (0,8–1,4%), caffeine (0,1–0,7%), tinh bột (6–9%).
  • Yêu cầu kỹ thuật nguyên phụ liệu:
    • Bơ ca cao: Hàm lượng acid béo tự do tối đa 1,75% (IUPAC 2.201), chỉ số iodine 33–42, độ ẩm tối đa 0,1%, chỉ số khúc xạ 1,456–1,459.
    • Đường saccharose: Độ Pol $\ge 99,90^\circ Z$, đường khử $\le 0,03%$, tro dẫn điện $\le 0,03%$, ẩm $\le 0,05%$.
    • Sữa bột gầy: Protein 33,4%, chất béo 0,8%, lactose 54,1%, khoáng 7,9%, ẩm 3,8%.
    • Chất nhũ hóa lecithin: Giới hạn theo Codex 87-1981 tối đa 5–10 g/kg (0,5–1,0%); chỉ số AI $\le 66%$, HI $\le 0,1%$, độ ẩm $\le 0,85%$, kim loại nặng chì $< 20$ ppm, asen $< 4$ ppm.
  • Quy trình công nghệ tổng quát: Mô tả 11 công đoạn gồm rang hạt, tách vỏ, nghiền thô, phối trộn lần 1, nghiền mịn (kích thước hạt $<30,\mu\text{m}$), phối trộn lần 2, xử lý nhiệt (tempering), định hình rót khuôn, làm lạnh 3 giai đoạn, tách khuôn và bao gói bảo quản ở 20–23°C.
  • Cơ chế sai lỗi: Phân tích bản chất của hiện tượng nở hoa đường do ẩm ngưng tụ hòa tan đường tái kết tinh và nở hoa chất béo do biến đổi pha tinh thể không kiểm soát từ dạng V sang dạng VI.
Dạng tinh thể bơ ca cao Nhiệt độ nóng chảy (°C) Mức độ ổn định cấu trúc
Dạng I ($\gamma$) 12 Rất không ổn định
Dạng II ($\alpha$) 21 Không ổn định
Dạng III ($\beta'$) 26 Không ổn định
Dạng IV ($\beta'$) 28 Kém ổn định
Dạng V ($\beta_2$) 34 Ổn định (đạt yêu cầu kỹ thuật)
Dạng VI ($\beta_1$) 36 Bền vững nhất (gây thô nhám, nở hoa béo)

Chương 2: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết thiết kế bố trí 4 bước thí nghiệm cụ thể:

  1. Thí nghiệm 1 (Thăm dò): Thiết lập quy trình ban đầu với 3 kg hạt ca cao lên men. Chế độ công nghệ: Rang ở 110°C trong 1,5 giờ; nghiền thô; phối trộn lần 1 (đường xay 20%, sữa gầy 16%); nghiền mịn 15 lần bằng cối đá; phối trộn lần 2 (bơ ca cao 25%, lecithin 0,5% trong 2 giờ); tempering (nhiệt độ nóng chảy 47°C, tạo mầm 26,5°C, rót khuôn 30,5°C); làm lạnh (8 phút ở 12°C, 20 phút ở 4°C, 10 phút ở 16°C).
  2. Thí nghiệm 2 (Tỷ lệ đường : sữa gầy): Bố trí ngẫu nhiên 2 nhân tố với 9 nghiệm thức ($3 \times 3$), lặp lại 3 lần. Nhân tố A (tỷ lệ đường saccharose: 16%, 20%, 24%), nhân tố B (tỷ lệ sữa bột gầy: 12%, 16%, 20%). Chỉ tiêu đánh giá: Điểm cảm quan theo TCVN 3215-79.
  3. Thí nghiệm 3 (Chế độ nhiệt tempering): Bố trí 3 nhân tố với 27 nghiệm thức ($3 \times 3 \times 3$), lặp lại 3 lần. Nhân tố C (nhiệt độ nóng chảy: 46,5°C; 47,0°C; 47,5°C), nhân tố D (nhiệt độ tạo mầm: 26,0°C; 26,5°C; 27,0°C), nhân tố E (nhiệt độ ổn định tinh thể V: 30,0°C; 30,5°C; 31,0°C). Chỉ tiêu đánh giá: Thời gian duy trì cấu trúc ở 30°C (phút).
  4. Thí nghiệm 4 (Thời gian làm lạnh): Bố trí 3 nhân tố với 27 nghiệm thức ($3 \times 3 \times 3$), lặp lại 3 lần trên 3 vùng nhiệt cố định (12°C, 4°C, 16°C). Nhân tố F (thời gian làm mát ở 12°C: 6, 8, 10 phút), nhân tố G (thời gian làm lạnh ở 4°C: 20, 25, 30 phút), nhân tố H (thời gian làm ấm ở 16°C: 10, 15, 20 phút). Chỉ tiêu phân tích: Tỷ lệ sản phẩm nở hoa chất béo và đọng sương trên 10 sản phẩm.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm và phân tích số liệu:

  • Kiểm tra nguyên liệu đầu vào: Hạt ca cao lên men Châu Đức đạt tiêu chuẩn hạng 1A theo TCVN 7519:2005. Số hạt/100g qua 5 lần thử dao động từ 80 đến 90 hạt; tỷ lệ lên men qua thử nghiệm cắt hạt (cut-test) đạt 60–68%; độ ẩm hạt 7,2% ($\le 7,5%$); tỷ lệ vỏ 10,1%; hàm lượng tanin 1,5%.
  • Kết quả thí nghiệm thăm dò: Tổng số câu trả lời phân biệt đúng trong phép thử tam giác là 9/18 lượt thử. Giá trị này thấp hơn số câu đúng tới hạn (10 câu ở $\alpha=0,05$), chứng minh sản phẩm thử nghiệm đạt mức tương đồng cao, không có sai biệt lớn so với chocolate sữa thương mại.
  • Tối ưu hóa tỷ lệ đường và sữa gầy: Mẫu $A_3B_3$ (tỷ lệ 24% đường : 20% sữa bột gầy) đạt điểm cảm quan cao nhất, có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) so với các mẫu còn lại. Hàm lượng đường và sữa cao giúp cân bằng vị đắng gắt của ca cao, tạo độ mịn xốp do đường lactose hòa tan nhanh và protein sữa làm giảm liên kết mạng bơ ca cao thuần túy.
  • Tối ưu hóa chế độ nhiệt tempering: Mẫu $C_2D_1E_3$ (nhiệt độ nóng chảy 47,0°C; nhiệt độ tạo mầm 26,0°C; nhiệt độ nâng lên kết tinh dạng V 30,0°C) cho thời gian giữ vững cấu trúc lâu nhất khi thử nghiệm tại 30°C. Chế độ này giúp làm tan chảy toàn bộ tinh thể ban đầu ở 47°C, tạo đồng thời mầm tinh thể dạng IV và dạng V ở 26°C, sau đó làm tan hoàn toàn tinh thể dạng IV kém bền ở 30°C, chỉ giữ lại mạng lưới tinh thể dạng V bền vững.
  • Tối ưu hóa thời gian làm lạnh 3 giai đoạn: Nghiệm thức $F_1G_2H_2$ (6 phút làm mát ở 12°C; 25 phút làm lạnh ở 4°C; 10 phút làm ấm ở 16°C) cho số lượng sản phẩm khuyết tật thấp nhất. Thời gian làm mát 6 phút giúp hạ nhiệt sơ bộ không gây sốc nhiệt; 25 phút tại 4°C đảm bảo bơ ca cao kết tinh triệt để; 10 phút tại 16°C đưa nhiệt độ sản phẩm vượt qua điểm sương của không khí, ngăn chặn hoàn toàn hiện tượng ngưng tụ ẩm và nở hoa đường khi bao gói.
Thông số thí nghiệm Các mức khảo sát Mức tối ưu được lựa chọn Tiêu chí đánh giá đạt được
Tỷ lệ đường : sữa bột gầy Đường (16, 20, 24%)
Sữa (12, 16, 20%)
24% đường : 20% sữa gầy ($A_3B_3$) Điểm cảm quan cao nhất ($p < 0,05$)
Chế độ nhiệt tempering $T_{\text{chảy}}$ (46,5; 47,0; 47,5°C)
$T_{\text{mầm}}$ (26,0; 26,5; 27,0°C)
$T_{\text{khuôn}}$ (30,0; 30,5; 31,0°C)
47,0°C – 26,0°C – 30,0°C ($C_2D_1E_3$) Thời gian bền cấu trúc tại 30°C dài nhất
Thời gian làm lạnh 3 pha Pha 1 ở 12°C (6, 8, 10 phút)
Pha 2 ở 4°C (20, 25, 30 phút)
Pha 3 ở 16°C (10, 15, 20 phút)
6 phút (12°C) – 25 phút (4°C) – 10 phút (16°C) ($F_1G_2H_2$) Tỷ lệ nở hoa béo và đọng sương thấp nhất

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Nghiên cứu đã thiết lập được quy trình công nghệ hoàn chỉnh sản xuất chocolate sữa ở quy mô phòng thí nghiệm từ nguồn hạt ca cao lên men Việt Nam với hệ thông số kỹ thuật chuẩn hóa:

  • Tiền xử lý và nghiền: Rang hạt ở 110°C trong 1,5 giờ; tách vỏ lụa; nghiền thô; phối trộn lần 1 trong 15 phút với tỷ lệ 24% đường xay tinh luyện và 20% sữa bột gầy; nghiền mịn 15 lần bằng cối đá đạt kích thước hạt $< 30,\mu\text{m}$.
  • Phối trộn và ổn định hệ nhũ: Phối trộn lần 2 với 25% bơ ca cao và 0,5% soya lecithin, đảo trộn liên tục trong 2 giờ tại nhiệt độ 40–50°C.
  • Xử lý nhiệt (Tempering): Nâng nhiệt nóng chảy hoàn toàn tại 47°C $\rightarrow$ Hạ nhiệt tạo mầm tinh thể xuống 26°C $\rightarrow$ Nâng nhiệt ổn định tinh thể dạng V và rót khuôn định hình ở 30°C.
  • Làm lạnh và đóng gói: Làm mát 6 phút tại 12°C $\rightarrow$ Làm lạnh kết tinh 25 phút tại 4°C $\rightarrow$ Ổn nhiệt chống sốc và đọng sương 10 phút tại 16°C $\rightarrow$ Tách khuôn, bao gói kín bằng giấy nhôm/giấy bạc và bảo quản tại 20–23°C.

Giải pháp và đóng góp

  • Giá trị khoa học: Cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về các biến đổi vật lý - cảm quan của chocolate sản xuất từ nguồn nguyên liệu nội địa; xác lập mối quan hệ giữa chế độ nhiệt tempering và động học kết tinh đa hình của bơ ca cao.
  • Giá trị ứng dụng: Chứng minh tính khả thi của việc sử dụng 100% nguyên liệu hạt ca cao lên men tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để chế biến sản phẩm chocolate sữa đạt chất lượng tương đương mẫu thị trường; đặt nền tảng kỹ thuật cho việc nâng cao giá trị hạt ca cao nông sản từ 55.000 đồng/kg lên dòng sản phẩm có giá trị 600–800 triệu đồng/tấn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (mẻ thử nghiệm 3 kg hạt), sử dụng các thiết bị thủ công và gián đoạn (nghiền bằng cối đá, bể điều nhiệt phòng thí nghiệm) chưa phản ánh hoàn toàn điều kiện đảo trộn nhiệt liên tục (conching) trong công nghiệp.
    • Chưa tiến hành theo dõi biến đổi chất lượng sản phẩm và hạn sử dụng trong thời gian bảo quản dài ngày (shelf-life testing).
    • Chưa phân tích sâu thành phần hóa lý vi lượng và phổ acid béo chi tiết của sản phẩm sau chế biến.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nâng quy mô thử nghiệm lên mức pilot và công nghiệp với hệ thống máy đảo trộn conching chuyên dụng và máy tempering tự động liên tục.
    • Khảo sát sự tương thích khi thay thế một phần bơ ca cao bằng các nguồn chất béo thực vật khác hoặc bổ sung các nguyên liệu phụ trợ (hạnh nhân, hạt điều).
    • Nghiên cứu hoàn thiện bao bì và xác định thời hạn bảo quản của chocolate trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn dữ liệu chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Công nghệ Thực phẩm và Kỹ thuật Sau thu hoạch: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm đa nhân tố trong chế biến bánh kẹo, kỹ thuật đánh giá cảm quan (phép thử tam giác, cho điểm thị hiếu) và phương pháp xử lý số liệu ANOVA/LSD bằng Statgraphics.
  • Các cơ sở sản xuất socola thủ công (Bean-to-Bar) và doanh nghiệp chế biến nông sản: Ứng dụng trực tiếp bộ thông số tối ưu (chế độ rang 110°C, tỷ lệ phối trộn 24% đường : 20% sữa, 3 giai đoạn nhiệt tempering 47°C – 26°C – 30°C, và quy trình làm lạnh 3 cấp nhiệt) để xây dựng quy trình sản xuất thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nguyên liệu hạt ca cao trong nghiên cứu có xuất xứ từ đâu và đạt tiêu chuẩn chất lượng nào?

Hạt ca cao lên men được thu mua từ quả tươi tại huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Kết quả kiểm tra đạt tiêu chuẩn hạt loại 1A theo TCVN 7519:2005 với mật độ 80–90 hạt/100g, độ ẩm 7,2%, tỷ lệ lên men qua thử nghiệm cut-test đạt 60–68%, hàm lượng vỏ 10,1% và hàm lượng tanin 1,5%.

2. Tỷ lệ phối trộn đường saccharose và sữa bột gầy tối ưu được xác định là bao nhiêu?

Tỷ lệ phối trộn tối ưu cho điểm đánh giá cảm quan cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) là 24% đường saccharose tinh luyện và 20% sữa bột gầy (mẫu $A_3B_3$).

3. Ba giai đoạn nhiệt độ tối ưu trong quá trình tempering của đồ án là gì?

Quy trình tempering tối ưu gồm 3 mốc nhiệt độ:

  • Giai đoạn 1: Gia nhiệt lên 47,0°C để làm tan chảy hoàn toàn các tinh thể bơ ca cao.
  • Giai đoạn 2: Hạ nhiệt xuống 26,0°C để tạo mầm tinh thể bơ ca cao (cả dạng IV kém bền và dạng V bền).
  • Giai đoạn 3: Nâng nhiệt lên 30,0°C để làm tan chảy triệt để các tinh thể dạng IV kém bền, giữ lại mầm tinh thể dạng V ổn định trước khi rót khuôn.

4. Quá trình làm lạnh 3 vùng nhiệt độ được thiết lập với thời gian như thế nào để ngăn ngừa khuyết tật bề mặt?

Để tránh hiện tượng nở hoa chất béo và ngưng tụ ẩm gây nở hoa đường, quá trình làm lạnh tối ưu trải qua:

  • Vùng 1 (Làm mát tại 12°C): 6 phút để hạ nhiệt ban đầu.
  • Vùng 2 (Làm lạnh sâu tại 4°C): 25 phút để kết tinh hoàn toàn cấu trúc bơ ca cao.
  • Vùng 3 (Làm ấm tại 16°C): 10 phút để nâng nhiệt độ khuôn lên trên điểm sương của môi trường trước khi tách khuôn và bao gói.

5. Tỷ lệ bơ ca cao và chất nhũ hóa lecithin được bổ sung ở giai đoạn nào trong quy trình?

Bơ ca cao được bổ sung ở mức 25% và soya lecithin ở mức 0,5% tại công đoạn phối trộn lần 2 (sau bước nghiền mịn hỗn hợp ca cao lỏng, đường và sữa), hỗn hợp được đảo trộn liên tục trong 2 giờ tại nhiệt độ 40–50°C nhằm giảm độ nhớt và làm bền hệ nhũ tương.

Kết luận

Đồ án tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hải Hồ đã xây dựng thành công quy trình công nghệ sản xuất chocolate sữa quy mô phòng thí nghiệm từ hạt ca cao lên men tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nghiên cứu đã chuẩn hóa các thông số kỹ thuật cốt lõi: tỷ lệ 24% đường : 20% sữa gầy, chế độ nhiệt tempering 47°C – 26°C – 30°C và quy trình làm lạnh 3 cấp nhiệt (12°C/6 phút $\rightarrow$ 4°C/25 phút $\rightarrow$ 16°C/10 phút). Kết quả thực nghiệm khẳng định tiềm năng nâng cao giá trị thương phẩm cho hạt ca cao Việt Nam thông qua công nghệ chế biến sâu, cung cấp dữ liệu khoa học có độ tin cậy cao phục vụ đào tạo và phát triển sản xuất thực nghiệm.