Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DA 1. Cầu trúc của da [ 1, 2, 3 ] Hình 1. Cấu trúc của da Diện tích da ở người trưởng thành có khoảng 2m2, chiếm khoảng 5% khối lượng toàn cơ thể và tiếp nhận khoảng 1/3 lượng máu lưu thông. Da có bề dày từ 0,5 - 4 mm tuỳ theo vùng da và tuỳ theo lứa tuổi.
Được cấu tạo từ 3 lớp: - Biểu bì (epiderma) hay còn gọi là thượng bì hay ngoại bì - Trung bì (derma): còn gọi là chân bì hay nội bì - Hạ bì (hypoderma). Lớp biểu bì Hình 1. Cấu tạo lớp biểu bì Biểu bì là lớp tổ chức ngoài cùng của da. Lớp này có bề dày thay đổi tuỳ theo vị trí trên cơ thể trong khoảng 0,1 - 1 mm.
Lớp này bao gồm: - Màng chất béo bảo vệ: có bản chất là một nhũ tương kiểu N/D; bề dày 0,1 - 0,4 mm và pH acid (» 5). Tướng dầu là hỗn hợp các chất béo được tiết ra từ các tuyến bã nhờn. Tướng nước gồm nước và các chất được tiết ra từ tuyến mồ hôi chứa một số ion và một lượng nhỏ các chất khác như urê, glucose, acid lactic. Chất nhũ hoá chủ yếu là cholesterol và các este của nó.
Lớp này hầu như không ảnh hưởng đến sự hấp thu của thuốc. - Lớp sừng (Stratum corneum): còn gọi là lớp đối kháng hay là hàng rào bảo vệ: lớp này có vai trò quan trọng nhất trong quá trình hấp thu thuốc. Bề dày khoảng 20 - 40 mm, bình thường chỉ dày khoảng 10 mm và chứa khoảng 10% nước nhưng khi thấm nước sẽ dày lên đáng kể. Bề mặt của lớp sừng được cấu tạo bởi các tế bào đã chết dễ bong tróc, bên trong là lớp tế bào sừng rắn chắc liên kết chặt chẽ.
Lớp sừng có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại tác động của các yếu tố bên ngoài, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong quá trình thấm nước và các chất qua da. Mặt khác, lớp sừng còn có khả năng giữ lại một phần hoạt chất nên được coi như một kho dự trữ hoạt chất và phóng thích hoạt chất từ từ, vì vậy lợi dụng điều này người ta điều chế các chế phẩm có tác dụng kép (coi lớp sừng như một kho dự trữ và giải phóng thuốc dần dần). 4 - Lớp niêm mạc (lớp Malpighi): có độ dày khoảng 30 - 60 mm. Phần cuối cùng của lớp này giữ vai trò sinh sản, thường xuyên sinh ra các tế bào mới.
Ở ranh giới giữa lớp sừng và lớp niêm mạc có một lớp tế bào dày khoảng 10 mm được gọi là "vùng hàng rào Rein". Hàng rào này có tính không thấm nước và ngăn cản không cho nước di chuyển từ các lớp tế bào dưới lên lớp tế bào sừng của biểu bì, do vậy cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình thấm và hấp thu nước qua da. Lớp trung bì Hình 1. Cấu tạo lớp trung bì Lớp trung bì có bề dày khoảng 3 - 5 mm, được cấu tạo bởi hai lớp: Lớp thứ nhất: gồm các tế bào liên kết còn non và rất ít sợi, đã có nhiều mao mạch, bạch mạch và tận cùng của sợi thần kinh.
Một số sợi thần kinh xuyên ra tận biểu bì. Lớp thứ hai: rắn chắc hơn và có tính đàn hồi nhờ những sợi liên kết collagen (chất keo thân nước) có bề dày đều đặn xen kẽ với các mao mạch. Do được cấu tạo chủ yếu là chất keo thân nước nên các chất thân nước dễ dàng thấm qua lớp tổ chức này. Trung bì còn có các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi và hệ mao mạch cung cấp máu để vận chuyển chất dinh dưỡng, chất thải, điều hoà huyết áp và nhiệt độ cũng như tiếp nhận hoạt chất chuyển đến các mô, đến các tổ chức cần trị liệu.
• Mạch máu: chức năng chính của máu là vận chuyển dinh dưỡng, oxi 5 đến tất cả các cơ quan của cơ thể và loại bỏ chất thải, cacbon dioxit được sản sinh trong những tế bào khác nhau của cơ thể. Trong lớp trung bì, những mạch máu phân nhánh càng ngày càng nhỏ hơn bao trùm toàn bộ vùng da. Mở rộng và thu hẹp mạch máu xảy ra khi thay đổi nhiệt độ và trở thành cơ quan quan trọng nhất trong việc điều khiển nhiệt độ cơ thề. • Các bao lông: được cấu tạo bởi lớp niêm mạc của biểu bì và xuyên sâu xuống tận hạ bì nên đáy của các bao lông này (hay các lỗ chân lông) chỉ cấu tạo bởi một lớp tế bào mỏng và chưa bị sừng hoá.
Vì vậy, các hoạt chất thân dầu có thể đi qua bao lông vào thẳng tới chân bì. Tuy nhiên ở người do chỉ có khoảng 40 - 70 nang/cm2 (chỉ chiếm 1 - 2% diện tích bề mặt da) vì vậy sự hấp thu qua đường này không đáng kể. • Các tuyến bã nhờn: tuyến này thông với các bao lông và tiết vào đó các chất béo làm cho lông trơn bóng. Các chất này cùng với các chất có trong thành phần của các tế bào ở lớp sừng bị bong tróc ra tạo thành màng chất béo phủ trên bề mặt của biểu bì.
Cấu tạo tuyến bã • Các tuyến mồ hôi: có từ 2 - 5 triệu tuyến ở dạng hình ống xuyên qua các lớp tổ chức của da, phần chân là phần tiết mồ hôi nằm cuộn lại và sâu trong hạ bì; còn đầu ống mở ra ở bề mặt biểu bì. Mồ hôi có pH từ 4 - 6, 8. Ngoài chức năng bài tiết, tuyến này còn chức năng điều hoà thân nhiệt. Đây 6 còn là đường thấm của hoạt chất với tốc độ nhanh nhưng tổng lượng hoạt chất thấm qua là không đáng kể, chỉ chiếm khoảng 0,1%.
Tuyến mồ hôi 1. Lớp hạ bì Là lớp tổ chức trong cùng của da, tiếp nối với môi trường bên trong cơ thể. Lớp này có bản chất là một lớp mỡ ở dạng nhũ tương kiểu N/D với chất nhũ hoá là cholesterol, do đó các chất thân dầu dễ dàng thấm qua. Ở hạ bì có các mao mạch, các sợi thần kinh, đặc biệt là nơi chứa chân của các tuyến mồ hôi và hành của các bao lông, nhờ vậy các hoạt chất thân dầu có thể đi qua da.
Cấu tạo lớp hạ bì 7 1. Chức năng sinh lý của da [ 1, 2, 3 ] Da đảm nhiệm nhiều chức năng sinh lý như bảo vệ, bài tiết, điều hoà thân nhiệt, tổng hợp dự trữ, điều hoà huyết áp, hô hấp và là một cơ quan xúc giác nhưng ở góc độ bào chế thuốc dùng trên da, cần quan tâm nhiều hơn đến chức năng bảo vệ và chức năng dự trữ của da. Chức năng cơ học: chủ yếu do lớp trung bì đảm nhận làm cho da trở nên dẽo dai và linh động. Chức năng bảo vệ: - Bảo vệ hoá học: lớp sừng rất ít cho các hoá chất thấm qua.
- Bảo vệ các tia: lớp sừng là rào cản các tia tử ngoại, hồng ngoại. Tuy nhiên, nếu phơi ra ánh nắng mặt trời trong thời gian lâu, tia cực tím có thể gây tổn thương cho da. - Bảo vệ vi sinh học: lớp sừng được coi như hàng rào bảo vệ chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật. Môi trường hơi acid của màng chất béo bảo vệ có khả năng ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc và vi khuẩn.
Chức năng dự trữ: da là kho dự trữ quan trọng về chất lỏng, các muối và chất béo. Đặc biệt các steroid là những chất tham gia quá trình tổng hợp sinh tố D và có khả năng làm cho các chất béo ở da trở nên thân nước. Chức năng điều hoà nhiệt độ: hệ thống mao mạch và các tuyến mồ hôi ở da giúp điều hoà thân nhiệt theo cơ chế giãn mạch và bốc hơi nước. Chức năng bài tiết: da thải trừ các sản phẩm chuyển hoá, các cặn bã.
thông qua các tuyến tiết bã nhờn và các tuyến mồ hôi. Chức năng cảm giác: Ở trung bì bắt đầu có những tận cùng của các dây thần kinh cảm giác, nhờ đó da có khả năng thu nhận các cảm giác từ môi trường bên ngoài như nóng, lạnh, áp suất. Chức năng hô hấp: Sự hô hấp theo đường này tuy nhỏ ( khoảng 0,5 mm3/1cm2/1giờ) nhưng rất cần thiết cho sự sống, vì vậy người bị bỏng trên diện tích rộng có thể chết vì thiếu dưỡng khí. 8 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC TRIỆU CHỨNG ĐAU VÀ THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM KEM GIẢM ĐAU 2.
Tổng quan về các triệu chứng đau [ 5, 7 ] Trong lao động hằng ngày, chúng ta tiếp xúc với rất nhiều yếu tố gây đau. Ngoại trừ những kích thích mạnh, tác động lên dây thần kinh cảm giác đau, còn phần lớn mức độ đau nhỏ. Các triệu chứng đau thường gặp là: - Đau lưng, đau cơ hay cứng vai nhức mỏi cơ: là triệu chứng rất thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Bởi cơ vai, xương đòn và hai chi trên là những bộ phận "năng động" nhất của cơ thể, đồng thời chịu nhiều tác động nhất trong lúc làm việc.
Nguyên nhân của sự đau nhức, mỏi mệt, uể oải là do cơ bắp hoạt động quá nhiều, do sự chậm trễ dẫn truyền các tín hiệu trong các tế bào cơ trong lúc cơ bắp hoạt động quá căng thẳng (xảy ra ở cả những người làm việc thụ động cơ bắp như ngồi lâu trước máy tính, làm việc bàn giấy trong khoảng thời gian quá lâu, tạo ra sự uể oải, nhức mỏi vai, lưng; hoặc cơ bắp hoạt động quá nhiều). Đối với triệu chứng đau, mỏi vai, thông thường thì biện pháp sử dụng kem bôi da để thoa lên vùng đau, đồng thời xoa bóp vùng gáy cổ, các đốt sống cổ và bả vai để kem được hấp thu hết qua da với mục đích là làm lưu thông máu và thư giãn cơ, sẽ đem lại hiệu quả. - Đau nhức do bệnh thấp khớp, viêm khớp, đau khớp: bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp.
Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả hai bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay.
một hoặc vài tiếng, mới giảm bớt cảm giác cứng khớp.