Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò thiết thực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội thông qua việc giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người sản xuất và đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng. Trong chu trình chăn nuôi lợn, phân đàn lợn nái sinh sản giữ vai trò then chốt vì trực tiếp quyết định đến năng suất sinh sản, chất lượng con giống và tốc độ sinh trưởng của đàn lợn nuôi thịt thương phẩm. Tuy nhiên, sự phát triển chăn nuôi tập trung luôn đi kèm với nguy cơ phát sinh dịch bệnh bắt nguồn từ biến đổi tiểu khí hậu, điều kiện vệ sinh chăm sóc chưa đồng bộ hoặc dinh dưỡng không đảm bảo, gây tổn hại trực tiếp đến năng suất của nái và tỷ lệ nuôi sống của đàn con. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Quang Việt (chuyên ngành Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2021) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn này thông qua chuyên đề: "Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Nguyễn Văn Khanh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương".

Theo công bố của tác giả trong văn bản, mục đích nghiên cứu bao gồm:

  1. Nắm vững quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản.
  2. Hiểu rõ tác dụng của các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn.
  3. Chẩn đoán, điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái.
  4. Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế.
  5. Góp phần giúp cơ sở chăn nuôi nâng cao năng suất và chất lượng đàn gia súc.

Nhiệm vụ (yêu cầu) của đề tài được xác định thành 4 nội dung cụ thể:

  1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Văn Khanh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
  2. Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại.
  3. Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn và áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng tương ứng.
  4. Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh và hiệu quả điều trị bệnh thực tế.

Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ nuôi tại cơ sở. Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại Trang trại lợn Nguyễn Văn Khanh thuộc xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương – một trang trại tư nhân có tổng diện tích 5 ha, liên kết sản xuất với Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam và Công ty Cổ phần GreenFeed Việt Nam. Phạm vi thời gian theo dõi, can thiệp lâm sàng và thu thập số liệu kéo dài từ ngày 24/07/2020 đến ngày 03/01/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập cơ sở lý luận dựa trên các đặc điểm sinh lý sinh dục học gia súc và bệnh lý học thú y:

  • Đặc điểm sinh lý sinh dục: Quá trình thành thục về tính và thể vóc (tuổi phối giống lần đầu ở nái ngoại đạt 8 - 9 tháng tuổi khi đạt khối lượng 115 - 120 kg); chu kỳ động dục của lợn trung bình kéo dài 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực từ 48 - 72 giờ, rụng trứng xảy ra vào 35 - 45 giờ tính từ khi bắt đầu chịu đực; cơ chế động dục dưới sự điều hòa của trục vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng (FRF, FSH, Estrogen, Progesteron). Thời gian mang thai trung bình là 114 ngày (biến thiên 111 - 118 ngày), chia thành hai giai đoạn sinh lý rõ rệt: chửa kỳ I (từ phối giống đến ngày 84, thai chiếm 1/4 khối lượng sơ sinh) và chửa kỳ II (từ ngày 84 đến khi đẻ, thai tăng trưởng nhanh chiếm 3/4 khối lượng sơ sinh).
  • Đặc điểm dinh dưỡng lâm sàng: Nguyên tắc dinh dưỡng theo chu kỳ sản xuất với cám viên hỗn hợp hoàn chỉnh của Công ty C.P. Việt Nam (mã cám 566 cho nái chửa kỳ I và kỳ II đến 100 ngày; mã cám 567S cho giai đoạn từ ngày 100 đến khi sinh và chuẩn bị nuôi con). Nhu cầu dinh dưỡng giai đoạn chửa đạt mức đạm thô 13%, năng lượng trao đổi (NLTĐ) 2900 kcal/kg; giai đoạn nuôi con đạt protein 15%, NLTĐ 3100 kcal/kg, canxi 0,9 - 1,0%, photpho 0,7%. Lượng nước uống sinh lý của nái nuôi con yêu cầu 35 - 50 lít/con/ngày.
  • Bệnh học sinh sản: Sinh bệnh học, triệu chứng và nguyên nhân gây viêm tử cung (viêm cấp tính và mãn tính do vi khuẩn Staphylococcus aureus, Streptococcus, E. coli...), bệnh viêm vú (do vi khuẩn cơ hội, tổn thương xây xát cơ giới, kế phát từ sót nhau, mất cân đối dinh dưỡng) và bệnh sót nhau (do rối loạn trương lực co bóp cơ tử cung, thiếu hụt khoáng chất canxi, photpho hoặc can thiệp đỡ đẻ thô bạo).

Phương pháp nghiên cứu và can thiệp kỹ thuật bao gồm:

  • Phương pháp khảo sát lâm sàng: Giám sát dịch tễ, quan sát trạng thái vận động, đo thân nhiệt trực tràng (can thiệp khi thân nhiệt nái vượt 39,3°C - 39,5°C), kiểm tra dịch tiết âm đạo, màu sắc nước tiểu, thể trạng tuyến vú và chất lượng phân.
  • Phương pháp ứng dụng quy trình kỹ thuật chăn nuôi: Chăm sóc đỡ đẻ, can thiệp hồi sức sơ sinh bằng bột lăn Mistral, thắt cắt rốn sát trùng bằng cồn Iod, điều chỉnh nhiệt độ lồng úm (33 - 35°C), mài nanh, bấm tai, tập ăn sớm cho lợn con lúc 4 ngày tuổi.
  • Phương pháp điều trị can thiệp: Thực hiện phác đồ dùng thuốc kháng sinh (Vetrimoxin L.A, Gentamox), kích thích co bóp tử cung tống sản dịch (Oxytocin), hạ sốt giảm đau (Analgin C), phối hợp thụt rửa tử cung cục bộ bằng dung dịch Natri Clorid 0,9%.
  • Nguồn dữ liệu: Sổ sách theo dõi quản lý đàn của cơ sở giai đoạn 2018 - 2020 và số liệu theo dõi trực tiếp trên 138 nái (54 nái mang thai, 84 nái đẻ - nuôi con) cùng 982 lợn con theo mẹ trong 6 tháng thực tập.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý các chỉ tiêu tỷ lệ mắc, tỷ lệ khỏi, thời gian điều trị trung bình bằng công thức dịch tễ học thú y chuẩn trên phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này làm rõ tính cấp thiết của chuyên đề xuất phát từ đòi hỏi khắt khe của thị trường đối với nguồn thực phẩm an toàn và vai trò nền tảng của khâu quản lý đàn nái sinh sản trong chuỗi giá trị chăn nuôi lợn. Tác giả chỉ ra rằng khả năng thích nghi của đàn nái với tiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa tại địa phương cùng các sai sót trong quy trình thú y là nguồn cơn chính làm phát sinh hội chứng viêm nhiễm đường sinh dục và giảm tỷ lệ sống của đàn con. Phần mở đầu cũng xác lập cụ thể 5 mục đích thực hành nghề nghiệp, 4 yêu cầu chuyên môn gắn liền với thực tế trang trại và khẳng định ý nghĩa ứng dụng trực tiếp của đề tài trong việc tối ưu hóa tỷ lệ sống của gia súc sơ sinh và bảo hộ khả năng sinh sản của đàn nái sau cai sữa.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan tài liệu tập trung mô tả cấu trúc vật chất của cơ sở thực tập và hệ thống hóa các tài liệu chuyên ngành liên quan:

  • Điều kiện cơ sở: Trang trại tư nhân Nguyễn Văn Khanh thành lập năm 2010 tại xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tổng diện tích 5 ha, nằm độc lập trên cánh đồng cách ly khu dân cư, cách sông Thái Bình 100 m về phía Đông. Cơ sở vật chất phân tách khu sinh hoạt chung và khu chăn nuôi khép kín gồm: 1 chuồng nái bầu (2 dãy, 217 ô kích thước 2,4m × 0,65m và 6 ô đực giống 4m × 5m); 1 chuồng đẻ (2 dãy, 56 ô kích thước 2,4m × 1,6m thiết kế vùng lợn con sàn nhựa, lợn mẹ sàn bê tông); 3 chuồng lợn thịt (44 ô kích thước 6m × 7m, mật độ 45 - 50 con/ô, có ô cách ly bệnh 8 - 10 m²); 1 chuồng cách ly nái hậu bị và đực giống (10 ô kích thước 3m × 4m); 1 phòng pha chế tinh được trang bị kính hiển vi, máy đo mật độ tinh trùng, thiết bị cảm ứng nhiệt và nồi hấp cách thủy. Đàn lợn của trại được duy trì âm tính hoàn toàn với hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS - tai xanh).
  • Cơ sở khoa học và tổng quan nghiên cứu: Tổng kết các chỉ số sinh lý sinh sản của lợn nái ngoại (tuổi thành thục, các pha của chu kỳ động dục, diễn biến mang thai kỳ I và kỳ II); định mức nhu cầu dinh dưỡng công nghiệp theo giai đoạn mang thai, chờ đẻ và nuôi con. Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh...) và quốc tế (Urban, Smith...) về cơ chế gây bệnh của các chủng vi khuẩn niệu - sinh dục, các tổn thương niêm mạc tử cung do thủ thuật can thiệp cơ học không vô trùng và các phác đồ phong bế kháng sinh điều trị viêm tuyến vú.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành

Nội dung chương 3 quy định chi tiết quy trình tác nghiệp thực tế áp dụng tại cơ sở:

  • Quy định kỹ thuật nuôi dưỡng: Chuyển nái chửa lên chuồng đẻ trước ngày dự kiến sinh 7 - 10 ngày. Trước đẻ 3 ngày, giảm lượng cám 567S mỗi ngày 0,5 kg. Ngày nái cắn ổ chỉ cho ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc cho nhịn, cung cấp nước uống tự do. Sau sinh 3 ngày đầu, tăng lượng thức ăn từ từ 0,5 kg/ngày; từ ngày thứ 8 đến cai sữa, định mức thức ăn được chuẩn hóa theo công thức: $$\text{Lượng thức ăn (kg/nái/ngày)} = 2 + (\text{Số con} \times 0,35)$$
  • Khẩu phần chia đều làm 4 bữa/ngày (sáng, trưa, chiều, tối).
  • Quy trình hộ lý sinh sản: Chuẩn bị bao khâu lồng úm khử trùng, treo đèn sưởi duy trì nhiệt độ 33 - 35°C, sát trùng âm hộ nái bằng nước ấm pha thuốc sát trùng khi vỡ ối; hồi sức lợn con sơ sinh bằng bột lăn Mistral; thắt dây rốn cách cuống rốn 3 cm, cắt để lại 1,5 cm và sát trùng cồn Iod; cho bú sữa đầu trong vòng 1 giờ sau sinh; tiêm phòng kháng sinh dự phòng Vetrimoxin L.A (ngày 1, ngày 3, ngày 5) kết hợp Oxytocin (2 ml) đẩy sản dịch.
  • Lịch vệ sinh, an toàn sinh học và phòng bệnh bằng vắc xin cho từng nhóm lợn; công thức toán học tính toán tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ khỏi bệnh lâm sàng và xử lý số liệu.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả và thảo luận trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu thập được từ thực tế sản xuất tại trại:

  • Cơ cấu đàn gia súc qua 3 năm (2018 - 2020) cho thấy xu hướng tăng trưởng về quy mô: tổng đàn tăng từ 2.266 con (năm 2018) lên 2.543 con (năm 2020), trong đó đàn nái sinh sản tăng từ 180 con lên 200 con, năm 2020 nhập thêm 20 nái hậu bị để thay thế nái già cỗi loại thải.
  • Kết quả trực tiếp quản lý, chăm sóc 54 nái mang thai, 84 nái đẻ và nuôi con cùng 982 lợn con sinh ra. Tổng số lợn con nuôi sống đến cai sữa đạt 968 con, xác lập tỷ lệ sống trung bình toàn thời gian đạt 98,58%.
  • Tỷ lệ thực hiện các chỉ tiêu công việc: hoàn thành 100% định mức giao về cho ăn (360/360 lần), tắm chải (72/72 lần), tập ăn sớm lúc 4 ngày tuổi (325/325 lần), vệ sinh chuồng trại hàng ngày (140/140 lần), phun sát trùng (50/50 lần), quét và rắc vôi bột lối đi (24/24 lần).
  • Đánh giá lâm sàng trên 84 nái theo dõi ghi nhận: 14 con mắc viêm tử cung (16,66%), 5 con mắc viêm vú (5,95%), 3 con bị sót nhau (3,57%). Áp dụng phác đồ điều trị chuyên biệt trong 5 ngày đã giúp hồi phục hoàn toàn 100% số ca bệnh của cả ba nhóm bệnh lý trên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu thực nghiệm thông qua các bảng thống kê chi tiết phản ánh toàn diện hoạt động thú y và chăn nuôi tại cơ sở.

Bảng 1: Cơ cấu đàn lợn của trại Nguyễn Văn Khanh giai đoạn 2018 – 2020

Phân loại đàn lợn Năm 2018 (con) Năm 2019 (con) Năm 2020 (con)
Lợn đực giống 5 5 5
Lợn hậu bị 0 0 20
Lợn nái sinh sản 180 189 200
Lợn thịt thương phẩm 2.081 2.094 2.318
Tổng cộng 2.266 2.288 2.543

Nguồn: Số liệu do chủ trang trại cung cấp

Bảng 2: Kết quả theo dõi chăm sóc đàn nái và tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ (Năm 2020)

Tháng theo dõi Nái mang thai (con) Nái đẻ, nuôi con (con) Lợn con đẻ ra (con) Lợn con cai sữa (con) Tỷ lệ sống đến cai sữa (%)
Tháng 8 26 0 0 0 -
Tháng 9 28 0 0 0 -
Tháng 10 0 26 312 309 99,03
Tháng 11 0 30 345 338 97,97
Tháng 12 0 28 325 321 98,76
Tổng số 54 84 982 968 98,58

Bảng 3: Kết quả thực hiện lịch tiêm phòng vắc xin trên đàn nái sinh sản

Nhóm gia súc Thời điểm can thiệp Bệnh phòng Tên vắc xin Đường dùng Liều lượng Số con tiêm (con) Số con an toàn (con) Tỷ lệ an toàn (%)
Nái mang thai Tuần thai thứ 10 Dịch tả lợn Coglapest Tiêm bắp 2 ml/con 54 54 100,00
Nái mang thai Tuần thai thứ 12 Lở mồm long móng Aftopor Tiêm bắp 2 ml/con 54 54 100,00
Nái sau sinh Sau đẻ 15 ngày Bệnh khô thai Parvo Tiêm bắp 2 ml/con 84 84 100,00

Bảng 4: Tình hình nhiễm bệnh và kết quả điều trị lâm sàng trên đàn lợn nái

Tên bệnh Số nái theo dõi (con) Số nái mắc (con) Tỷ lệ mắc (%) Phác đồ điều trị can thiệp Thời gian điều trị (ngày) Số nái khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%)
Viêm tử cung 84 14 16,66 - Vetrimoxin: 1 ml/10 kg TT
- Oxytocin: 2 ml/con
- Analgin C: 1 ml/10 kg TT
- Thụt rửa NaCl 0,9%: 2 lít/con
5 14 100,00
Viêm vú 84 5 5,95 - Gentamox: 1 ml/15 kg TT
- Analgin C: 1 ml/10 kg TT
- Oxytocin: 2 ml/con
- Chườm lạnh, vắt cạn sữa viêm 4-5 lần/ngày
5 5 100,00
Sót nhau 84 3 3,57 - Oxytocin: 2 ml/con
- Vetrimoxin: 1 ml/10 kg TT
- Thụt rửa NaCl 0,9%: 2 lít/con
5 3 100,00

Về mặt giải pháp và kiến nghị thực tiễn, tác giả đúc rút các yêu cầu bắt buộc:

  1. Tuyệt đối hạn chế can thiệp móc thai bằng tay khi lợn nái có khả năng tự đẻ; trường hợp đẻ khó bắt buộc phải sát trùng nghiêm ngặt tay của kỹ thuật viên và dụng cụ bằng cồn, bôi trơn bằng mỡ Vaseline hoặc dầu thực vật để chống trầy xước niêm mạc âm đạo - tử cung.
  2. Giữ chuồng trại khô ráo tuyệt đối, không tắm cho nái vào những ngày nhiệt độ xuống thấp ẩm ướt nhằm tránh phát sinh bệnh viêm vú; tuyệt đối không tắm rửa trực tiếp cho lợn con sơ sinh.
  3. Bắt buộc mài nanh kỹ lưỡng cho lợn con sơ sinh để triệt tiêu nguyên nhân gây xây xát núm vú nái mẹ khi bú, ngăn ngừa nhiễm khuẩn cơ hội dẫn tới viêm vú kế phát.

Đóng góp so sánh của tác giả: Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ viêm tử cung tại trại là 16,66%, thấp hơn đáng kể so với các công bố trước đây trên các đàn nái nuôi tại khu vực Bắc Bộ của Nguyễn Văn Thanh (36,57% - 61,07%) hay Nguyễn Văn Thanh và cs. (42,4%). Điều này chứng minh hiệu quả thực tế của quy trình vệ sinh an toàn sinh học khép kín và phác đồ dùng thuốc dự phòng sau sinh tại cơ sở thực tập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn thực tiễn được ghi nhận từ văn bản:

  • Phạm vi không gian và đối tượng: Đề tài chỉ triển khai theo dõi thực tế trên một cơ sở chăn nuôi đơn lẻ (trại Nguyễn Văn Khanh), chưa mở rộng điều tra so sánh đối chứng liên trại trên các mô hình chuồng hở hoặc các quy mô chăn nuôi nông hộ khác nhau tại tỉnh Hải Dương.
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu theo dõi lâm sinh sản tập trung trong 6 tháng (từ cuối tháng 7/2020 đến đầu tháng 1/2021), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ biến thiên dịch tễ và sinh lý đàn nái qua đủ bốn mùa trong năm, đặc biệt là giai đoạn chuyển mùa nồm ẩm đầu xuân.
  • Phương pháp chẩn đoán: Việc xác định bệnh hoàn toàn dựa trên phương pháp chẩn đoán triệu chứng lâm sàng quan sát bằng mắt thường, chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập, nuôi cấy định danh chính xác vi khuẩn gây bệnh hoặc làm kháng sinh đồ kiểm tra mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với các loại kháng sinh điều trị.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo dựa trên phạm vi đề tài bao gồm việc mở rộng theo dõi các chỉ tiêu sinh sản sâu hơn như: tỷ lệ phối giống đậu thai sau điều trị viêm tử cung, khoảng cách số ngày từ cai sữa đến khi động dục trở lại của nái, và xét nghiệm kháng sinh đồ định kỳ để ngăn ngừa nguy cơ kháng kháng sinh trong các trại liên kết công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi: Nắm bắt quy chuẩn thực hành đỡ đẻ, quy trình hồi sức lợn con, định mức cho ăn theo tuần tuổi thai và công thức định lượng thức ăn cho nái nuôi con dựa trên quy mô ổ đẻ.
  • Kỹ thuật viên thú y tại các trang trại tập trung: Tham khảo trực tiếp 3 phác đồ điều trị can thiệp đối với hội chứng viêm tử cung, viêm vú và sót nhau đã được kiểm chứng lâm sàng cho tỷ lệ hồi phục 100% trong 5 ngày.
  • Chủ trang trại chăn nuôi lợn: Vận dụng hệ thống quy trình an toàn sinh học, lịch trình vệ sinh tiêu độc bằng vôi sống/hóa chất và lịch tiêm phòng vắc xin chuẩn hóa cho đàn nái sinh sản nhằm duy trì trạng thái âm tính với các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là hệ thống hướng dẫn chi tiết các bước đỡ đẻ, các biểu hiện lâm sàng trước đẻ theo từng mốc thời gian (10 ngày, 1 ngày, 12 giờ, 1 giờ) và bảng định mức thức ăn chi tiết cho từng đối tượng nái.

Câu hỏi thường gặp

1. Khẩu phần ăn của lợn nái nuôi con từ ngày thứ 8 sau sinh đến khi cai sữa tại trang trại được xác định bằng công thức nào?
Khẩu phần được tính toán theo công thức chuẩn của trại: $\text{Lượng thức ăn (kg/nái/ngày)} = 2 + (\text{Số con} \times 0,35)$. Lượng thức ăn này được chia đều làm 4 bữa ăn trong ngày (sáng, trưa, chiều và tối). Nếu thể trạng nái gầy thì cộng thêm 0,5 kg/ngày, nếu nái béo thì giảm 0,5 kg/ngày.

2. Tỷ lệ lợn con nuôi sống đến khi cai sữa trong toàn bộ thời gian tác giả thực tập tại trang trại đạt bao nhiêu phần trăm?
Tổng số lợn con đẻ ra từ 84 nái là 982 con, số lợn con nuôi sống thành công đến khi cai sữa là 968 con, đạt tỷ lệ nuôi sống trung bình là 98,58% (cụ thể: tháng 10 đạt 99,03%, tháng 11 đạt 97,97%, và tháng 12 đạt 98,76%).

3. Đàn lợn nái mang thai và nái sau sinh tại cơ sở được tiêm phòng bắt buộc những loại vắc xin nào?
Trại áp dụng lịch tiêm 3 loại vắc xin cho nái: tuần chửa thứ 10 tiêm vắc xin Coglapest (2 ml, tiêm bắp) phòng bệnh Dịch tả lợn; tuần chửa thứ 12 tiêm vắc xin Aftopor (2 ml, tiêm bắp) phòng bệnh Lở mồm long móng; sau khi sinh 15 ngày tiêm vắc xin Parvo (2 ml, tiêm bắp) phòng bệnh Khô thai. Toàn bộ 100% số nái tiêm phòng đều đạt độ an toàn.

4. Phác đồ dùng thuốc cụ thể để điều trị dứt điểm 14 ca nái mắc viêm tử cung tại trại gồm những loại thuốc nào?
Phác đồ điều trị kéo dài liên tục trong 5 ngày gồm: tiêm kháng sinh Vetrimoxin liều 1 ml/10 kg thể trọng; tiêm bắp Oxytocin liều 2 ml/con để tăng co bóp tống sản dịch viêm; tiêm hạ sốt, kháng viêm Analgin C liều 1 ml/10 kg thể trọng; kết hợp thụt rửa tử cung bằng 2 lít dung dịch Natri Clorid (NaCl) 0,9%/con.

5. Lợn nái sắp đẻ tại trang trại có những biểu hiện sinh lý đặc trưng nào theo từng mốc thời gian?
Theo ghi nhận của tác giả: trước khi đẻ 10 ngày âm hộ và bầu vú sưng to; trước đẻ 1 ngày lợn cắn ổ, dịch âm hộ chảy nhiều, bồn chồn, đứng nằm liên tục, giảm ăn; trước đẻ 12 giờ bắt đầu tiết sữa đầu, nái bỏ ăn hoặc giảm ăn rõ rệt; trước đẻ 1 giờ nái nằm im, nhịp thở tăng nhanh, đi tiểu nhiều lần, chân cử động liên tục, xuất hiện phân xu cùng dịch nhầy lẫn máu, cơn rặn tăng dần và vỡ ối.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Quang Việt đã hệ thống hóa và áp dụng thành công quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại Nguyễn Văn Khanh, tỉnh Hải Dương. Việc kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp vệ sinh an toàn sinh học, lịch tiêm phòng vắc xin đầy đủ và kỹ thuật đỡ đẻ chuẩn xác đã giúp duy trì tỷ lệ sống của đàn lợn con sơ sinh đạt 98,58%. Các phác đồ điều trị bằng kháng sinh kết hợp hộ lý lâm sàng được kiểm chứng đạt tỷ lệ chữa khỏi 100% đối với các bệnh viêm tử cung, viêm vú và sót nhau, mang lại giá trị thực tiễn cao cho công tác thú y tại cơ sở chăn nuôi lợn tập trung.