Chương 1 TỎNG QUAN 1. Cấu tạo cơ quan sinh dục mèo cái Theo Võ Tan Đại (2017), cấu trúc cơ bản của hệ sinh dục mèo cái bao gồm: buông trứng, ống dẫn trứng, tử cung, cô tử cung, âm đạo, tiền đình và âm hộ (Hình Lay. Thân tử cung Cổ tử cung Hình 1. Cấu trúc hệ sinh dục mèo cái (Nguồn: Johnson, 2022) 1.
Am hộ Am hộ là bộ phận duy nhât quan sát được từ bên ngoài của cơ quan sinh dục mẻo cái, bao gôm 2 môi trái và phải, câu tạo bởi mô liên kêt mỡ, cơ trơn và cơ co âm hộ. Hai môi cách nhau bởi rãnh âm môn là cửa ra của hệ sinh dục va niệu đạo. Am vật năm giữa âm hộ và tiên đình, câu tạo âm vat là mô mỡ được bao bởi mang sợi fibrin chưa nhiêu dau mút thân kinh nêu rat nhạy cam. Tiền đình Tiền đình là buồng niệu duc nam giữa âm hộ và âm đạo.
Ông niệu đạo đồ ra ở đầu của tiền đình. Thành của tiền đình bao gồm cơ co tiền đình, tuyến tiền đình và ụ tiền đình ở 2 bên. Âm đạo Âm đạo nằm giữa tiền đình và tử cung. Cấu tạo bởi các lớp cơ doc bên ngoài và cơ vòng bên trong với nhiều nếp gấp, cho phép giãn nỡ kích thước lớn hơn cho phép sự tống thai khi sinh đẻ.
Một phan âm đạo nối đài bên trên thành một phan tử Cung. Cé tử cung Cổ tử cung thực chất là một phan của tử cung, bao gồm lỗ trong, kênh trung tâm và lỗ ngoài. Cổ tử cung ngắn, dày và được cau tạo bởi cơ trơn dạng vòng. Niêm mạc của cô tử cung giống niêm mạc nội mạc tử cung.
Tuyến ở cổ tử cung ít và không phát triển. Tử cung Tử cung bao gồm thân tử cung và hai sừng tử cung. Thân tử cung ngắn có giới han từ phía sau cô tử cung và đầu sừng của hai tử cung. Sừng tử cung nằm doc hai bên thành bụng.
Hai sừng tử cung nằm giữa đoạn cuối kết tràng về phía bên trái và không tràng về phía bên phải. Ông dẫn trứng Ông dẫn trứng có kích thước nhỏ và chia làm 3 phần bao gồm phần phêu, phần rộng vả phần eo có vai trò trong việc đón nhận trứng rụng từ buồng trứng và là nơi xảy ra quá trình thụ thai. Phần phéu có dang hình phéu mở về hướng túi bao buồng trứng gần với túi và xoang phúc mạc. Ở đầu của phần phêu có nhiều tua giống hình các ngón tay nhỏ hướng về phía bao buồng trứng và đi vào xoang phú.
Phần rộng là nơi quá trình thụ thai xảy ra. Phần eo là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng và nối với tử cung. Buồng trứng Buông trứng nam ở trước sừng tử cung, ngay phía sau của thận. Buồng trứng mèo có hình elip, dây chang treo buồng trứng lỏng lẻo hơn so với chó và buồng trứng không có bao buồng trứng.
Bề mặt buồng trứng thay đổi tùy giai đoạn sinh sản của thú. Dây chằng nối buông trứng và sừng tử cung. Dây treo buồng trứng kéo dải tới phía lưng bên của thành bụng ở khoảng xương sườn cuối cùng. Dây chẳng rộng có nhiêm vụ nối hệ sinh sản thú cái với thành bụng.
Màng treo kéo dai từ tử cung và đầu âm đạo đến mặt lưng bên của thành bụng và mặt bên của thành xoang chậu. Một phần dây chẳng rộng gấp lại tạo thành dây treo buồng trứng kéo dài đến mặt bụng và đến giữa buồng trứng. Dây chang buông trứng nối buông trứng với dây treo buồng trứng. Màng treo Bao gồm màng treo tử cung hay màng rộng liên kết tử cung với thành bụng ở phía trên xoang bụng và xoang chậu.
Đây là màng treo quan trọng nhất chứa mạch máu và thần kinh. Mang treo buồng trứng là phần trước của day chang rộng ở tử cung nối buồng trứng với thắt lưng. Một sốt bệnh trên hệ sinh sản và hoạt động sinh sản của mèo cái 1. Viêm tử cung mủ Viêm tử cung mủ là trường hợp viêm tử cung gây tích dịch viêm làm tử cung nở lớn.
Viêm tử cung mủ cần phân biệt với trường hợp tử cung lớn do tăng tiết nước hoặc tăng tích dịch nhay. Viêm tử cung mủ là trường hợp bệnh lý viêm tử cung tích mủ nặng (Hình 1. Bệnh thường đi kèm với triển dưỡng nội mạc tử cung và thường xảy ra trong giai đoạn sau động dục. Viêm tử cung mủ trên mèo ít xảy ra hơn trên chó vì mèo cần giao phối mới có trứng rụng và hình thành hoàng thê hoặc gây rụng trứng nhân tạo.
Tuy nhiên, mèo sử dụng progestin đề trị bệnh viêm da làm tăng nguy cơ viêm tử cung mủ (Võ Tan Dai, 2017). Bệnh thường xảy ra trong một thời gian dài sau động dục 1- 4 tuần hoặc sau một thời gian sử dụng progestin. Các biểu hiện liên quan bao gồm: chảy dịch mủ, thỉnh thoảng có ít máu hoặc dịch chảy ra từ âm hộ, âm đạo. Các biểu hiện bất thường khác bao gồm bụng phát triển lớn.
Siêu âm là biện pháp hiệu qua dé chân đoán viêm tử cung tích mủ trên mèo. Đẻ khó Dé khó là trường hợp khó sinh hoặc không có khả năng tống thai qua kênh sinh sản mà không cần sự hỗ trợ. Đẻ khó ít xảy ra trên mèo hơn so với chó, nhưng tình trạng bệnh nặng hơn và khả năng gây chết mẹ và chết thai cao hơn (Võ Tan Dai, 2017). Chan đoán đẻ khó trên mèo bao gồm các bước tìm hiểu bệnh sử, khám lâm sảng, siêu âm, X-quang.
Tìm hiểu bệnh sử và khám lâm sàng: thông tin bệnh sử cần thu thập đầy đủ. Tuy nhiên, cần chú ý các biéu hiện sinh đẻ xảy ra trong hơn 2 giờ mà chưa tống được thai nào; hơn 4 giờ từ giai đoạn 2 của quá trình sinh đẻ nhưng chưa tống được thai đầu tiên; hoặc thời gian mang thai kéo dai hơn 68 ngày từ ngày phối; và không sinh được trong 24 giờ từ khi nhiệt độ trực tràng giảm. Khám lâm sàng bao gồm tình trạng sức khỏe chung, trước khi thực hiện các bước khám chi tiết trên hệ sinh sản. Khám lâm sàng phải bao gồm sờ nắn vùng bụng, xoang chậu, đưa ngón tay qua trực tràng và âm đạo đề kiểm tra.
Giảm hoặc không có phản xạ co thắt có thé do liệt tử cung. Dau hiệu lâm sàng bat thường cần chú ý bao gồm chảy dich âm đạo, mắt nước, mệt mỏi, có sự hiện diện của thai ở đường sinh sản, đau dữ dội vả có sự co thắt nhiều bất thường ở xoang bụng và tử cung. Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu cơ bản cần được kiểm tra trong điều kiện có thé. Ngoài ra, hàm lượng calcium huyết và glucose huyết cũng cần xác định vì khi calcium va glucose huyết thấp cũng gây khó sinh.
X-quang bụng cho phép chúng ta đánh giá kích thước thai, đếm số lượng thai và vị trí của thai. Ngoài ra, X-quang cũng cho phép chúng ta đánh giá xoang chậu và chân đoán các bất thường ở xương chậu. Siêu âm thai can thiết dé đánh giá thai sống, cũng như sức khỏe của thai. Siêu âm có thé thay tim thai, nhịp tim thai mèo bình thường >200 nhịp/phút.
Nhịp tim <190 nhịp/phút cho thấy thai yếu. Nhịp tim < 130 nhịp/phút cho phép tiên lượng khả năng sông của thai kém nêu thai không được sinh ra trong vòng vai gid. Viêm vú Viêm vú nhiễm khuẩn hoặc viêm vú không nhiễm khuan có thé xảy ra trên các thùy vú trong giai đoạn cho sữa. Vi khuẩn xâm nhập vào thùy vú qua núm vú, qua vết thương hoặc vi khuẩn do nhiễm trùng máu đến thùy vú.
Các vi sinh vật thường phân lập được bao gồm Streptococci, Staphylococci, E. Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: sưng bầu vú, sốt, đau khi sờ nắn. Sữa viêm có thé có mau, mủ và có thé có pH kiềm và đặc hơn sữa bình thường. Viêm vú không nhiễm trùng thường xảy ra ở giai đoạn cai sữa.
Bầu vú sưng, nóng, đau khi sờ nắn. Tuy nhiên, thú tỉnh tao, khỏe mạnh. Có thể chườm nóng và cho thú con bú các thùy vú căng. Giảm sự phân tiết sữa bằng cách giảm thức ăn và nước.
Không được kích thích bầu vú trong giai đoạn nay (Võ Tan Dai, 2017). Triển dưỡng tuyến vú Đây là trường hợp một hoặc nhiều tuyến vú tăng sinh nhanh về kích thước. Tuy nhiên, đây là trường hợp lành tính. Có hai dạng trường hợp tăng sinh là tăng sinh nang tuyến và tăng sinh biểu mô sợi.
Tăng sinh nang tuyến phát hiện khi sờ nắn tuyến vú phát hiện một hoặc nhiều khối nang tuyến phát triển lớn trên mèo chưa thién từ 1 — 14 năm tuổi. Tăng sinh biểu mô sợi xảy ra trên mèo cái tơ, đang lên giống hoặc đang mang thai, mèo già, mèo chưa thién và mèo đực thiến sau khi điều trị với progestin. Trường hợp bệnh lý này phụ thuộc vào sự thay đổi của kích thích tố ảnh hưởng đến tuyến vú. Triển dưỡng xảy ra 1 — 2 tuần sau động dục hoặc 2 — 6 tuần sau điều trị với progestin.
Sự phát triển quá lớn tuyến vú có thé gây chèn ép dẫn đến phù chân sau, xuất huyết, hoại tử một số vùng da. Trường hợp này có thể nhằm lẫn với viêm vú cấp tính. Bệnh có thể tự khỏi, tuy nhiên, phẫu thuật cắt bỏ tử cung và buồng trứng giúp giải quyết tình trạng bệnh và ngăn ngừa tái phát (Võ Tắn Đại, 2017). Chết thai va say thai Theo Võ Tan Dai (2017), chết phôi hoặc chết thai có thể xảy ra trong quá trình phôi di chuyền trong ống dẫn trứng hoặc trong giai đoạn sớm của quá trình làm tổ hoặc trong giai đoạn phôi trôi nối trong tử cung.
Chết phôi có thé do nguyên nhân truyền nhiễm làm ảnh hưởng trực tiếp sự phát triển của tế bào của phôi thai, do môi trường cơ quan sinh dục thú cái hoặc do sự phát triển bất thường của phôi. Say thai là trường hợp thai bị tổng ra khỏi tử cung trước khi thai có thé sông bên ngoài tử cung thú mẹ. Tốc độ sinh sản và những vấn đề phát sinh do hành vi sinh sản của mèo Theo tô chức quỹ động vật thế giới thống kê, với 1 cặp mèo đực cái, cho sinh sản tự do sau 1 năm sẽ có khoảng 8 con mèo, sau 2 năm sẽ nâng lên 32 con, tiếp dién như thế sau 10 năm thì tông số mèo sẽ là 2. Theo Little (2012), số mèo con đẻ trung bình dao động từ 3,7 đến 4,6 con.
Với thời gian sinh sản khoảng 10 năm và không có sự can thiệp của con người vảo việc sinh sản, một con mèo cái có thé dé dang sinh tới 100 con méo con trong đời.