PHẦN MỞ ĐẦU 1. Thông tin của đề tài Chủ nhiệm 1 Họ và t n: Ngu ễn V n Toàn N m sinh: 1983 Nam Nữ: nam Học vị: Cử nhân Chu n ngành: Sinh học N m đạt học vị: 2 6 Chức vụ: Trƣởng phòng Hỗ trợ công nghệ tế bào T n cơ quan công tác: Trung tâm Ƣơm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao Địa chỉ cơ quan: Ấp 1, xã Phạm V n Cội, hu ện Củ Chi, Tp.HCM Điện thoại cơ quan: 8 626461 3 Fax: 8 626461 4 Địa chỉ nhà ri ng: 12 , đƣờng 489, ấp 2, xã Phạm V n Cội, hu ện Củ Chi, TP. Điện thoại: 1212816981 Email: vantoanttut@gmail.com Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ƣơm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao Cán bộ phối hợp chính: Họ và tên Chữ ký xác Chuyên Cơ quan TT (Học vị và chức nhận tham gia ngành công tác danh KH) đề tài ThS. Nguyễn Sinh lý Thực Trung tâm Ƣơm tạo 1 Cửu Thành Nhân vật Doanh nghiệp NN CNC ThS.
Phan Thị Công nghệ Trung tâm Ƣơm tạo 2 Hồng Thủy Sinh học Doanh nghiệp NN CNC 2 2. Tính cấp thiết của đề tài Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có rất nhiều loài đƣợc sử dụng làm thuốc. Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc Việt Nam cũng có nhiều kinh nghiệm truyền thống trong việc sử dụng các loại cây cỏ sẵn có để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe. Với phƣơng châm xâ dựng một nền y học hiện đại, dân tộc và đại chúng nên sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng và nhà nƣớc ta đã quan tâm đến việc điều tra nguồn cây thuốc và kế thừa vốn kinh nghiệm dùng cây thuốc trong nhân dân.
Theo kết quả điều tra của Viện Dƣợc liệu, từ n m 1961 – 1975 đã điều tra và thống k đƣợc ở Miền Bắc 1120 loài cây thuốc thuộc 193 họ thực vật. Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nƣớc, công tác nà đƣợc tiếp tục triển khai ở các tỉnh phía Nam với đơn vị chủ lực là Phân Viện Dƣợc liệu TP. Hồ Chí Minh. Tính đến cuối n m 1985, toàn bộ 22 tỉnh và thành phố ở miền Nam đã hoàn thành việc điều tra cơ bản, kết quả đã phát hiện ở miền Nam 1.548 loài cây thuốc thuộc 225 họ thực vật.
Tổng hợp trong cả nƣớc đến lúc đó đã biết 1.863 loài cây thuốc. Bên cạnh kết quả điều tra cơ bản, một kết quả khả quan khác là qua mỗi đợt điều tra đã giới thiệu cho khai thác thu mua nhiều loài cây thuốc với khối lƣợng tới hàng ngàn tấn mỗi n m, góp phần bảo vệ sức khỏe cho toàn dân và dƣợc liệu xuất khẩu. Một số cây thuốc có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao chỉ có ở miền Nam đã đƣợc khai thác nhiều khi đó nhƣ Vàng Đắng (Coscinium fenestratum), Mã tiền (Strychnos nux- vomica), Sơn tra (Malus doumeri), Sâm Ngọc Linh (Sâm Việt Nam- Panax vietnamensis)… Trải qua nhiền n m khai thác li n tục và bị tàn phá bởi nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc ở các tỉnh phía Bắc cũng nhƣ ở phía Nam hiện đã có nhiều tha đổi. Có thể nói hầu hết những loài cây thuốc có giá trị sử dụng phổ biến đều đã bị suy giảm.
Một số loài vốn hiếm lại có giá trị sử dụng và kinh tế cao, do khai thác bất hợp lý còn đang có ngu cơ bị tuyệt chủng. Theo các nghiên cứu từ Viện Dƣợc 3 liệu, cho đến nay ở Việt Nam đã có đƣợc 144 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm hoặc đã bị suy giảm nghiêm trọng cần bảo tồn ở nƣớc ta (Nguyễn V n Tập 2006, 2007). Một số loài trong nhóm này, gần đâ đƣợc nghiên cứu bảo tồn nguyên vị (In -situ) và chuyển vị (Ex- situ) thành công, thậm chí đƣợc đƣa vào trồng thêm tại chỗ nhƣ Sâm Ngọc Linh ở vùng núi Ngọc Linh, Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), Ngũ gia bì hƣơng (A.gracilistylus), Sì to (Valeriana jatamansi), Dền toòng (Gynostemma pentaphylla) đang tiến hành ở Lào Cai, Hà Giang và Vĩnh Phúc, hoặc Ba kích (Morinda officinalis) đƣợc trồng ở Phú Thọ, Quảng Ninh, Hòa Bình, Quảng Nam và Thanh Hóa…. Cây Khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard), thuộc họ Đơn nem (M rsinaceae) là cây thuốc dân tộc nổi tiếng, đƣợc dùng để chữa đau bụng và đau dạ dày hiệu quả.
Cây Khôi nhung mọc hoang tại những khu rừng rậm miền thƣợng du các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Hà Tây. Tuy phân bố nhiều nơi nhƣng số lƣợng không nhiều do tái sinh hạt kém, lại bị khai thác với số lƣợng lớn nên mất nguồn hạt để tái sinh. Mặt khác những nơi có câ con mọc lại bị khai thác phá rừng mạnh nên dần biến mất vì không còn môi trƣờng sống thích hợp. Trong nghiên cứu đánh giá thực trạng cây thuốc quý hiếm tại Vƣờn Quốc gia Bạch Mã, cây Khôi nhung là cây thuốc quý đƣợc liệt k trong Sách Đỏ Việt Nam với mức độ đe dọa bậc V – sẽ nguy cấp.
Phƣơng pháp nhân giống chủ yếu của cây Khôi nhung là phƣơng pháp tru ền thống: nhân giống từ hạt hoặc giâm hom. Phƣơng pháp nhân giống truyền thống tuy đơn giản song có một số hạn chế nhƣ sự phát triển của cây phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trƣờng, thời tiết, sâu bệnh, hệ số nhân thấp, tỷ lệ sống không cao, nguồn giống ban đầu bị khai thác cạn kiệt n n không đủ để nhân số lƣợng lớn. Sự ra đời của phƣơng pháp vi nhân giống góp phần giải quyết những hạn chế của phƣơng pháp nhân giống truyền thống, cho phép sản xuất số lƣợng lớn cây giống sạch bệnh, đồng nhất về mặt di truyền. Dựa trên chiến lƣợc phát triển dƣợc liệu đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng dƣợc liệu trong nƣớc, nhu cầu sử dụng và vấn đề duy trì, bảo tồn câ dƣợc liệu quý tránh ngu cơ dẫn đến tuyệt chủng cây dƣợc liệu Khôi nhung, đồng thời tr n cơ sở các 4 công trình nghiên cứu về nhân giống in vitro đối với loại cây này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài ―Xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây Khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard)‖.
Mục tiêu của đề tài Xây dựng quy trình nhân giống cây Khôi nhung (Arsidia sylvestris Pitard). Phạm vi thực hiện của đề tài Trong phạm vi thực hiện của đề tài với giới hạn về mặt thời gian, cũng nhƣ kinh phí n n đề tài chỉ nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống in-vitro cây Khôi nhung ở trong phòng thí nghiệm chƣa tiến hành các thí nghiệm trồng và ch m sóc cây ở giai đoạn hậu nuôi cấy mô. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm hình thái Cây Khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard), thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), bộ Anh thảo (Primunales).
Cây bụi nhỏ, cao 10 - 70 cm, có thân rễ bò, không phân cành. Lá mọc cách thƣờng màu tím, tập trung ở đầu thân, phiến lá hình bầu dục hoặc trứng ngƣợc, cỡ 20 - 40 x 6 - 12 cm, đầu nhọn hoặc tù, giảm dần và men xuống gốc, không cuống hoặc cuống có cánh rộng; mép khía r ng cƣa nhọn, nhỏ, đều nhau, có lông màu nâu trên các gân, nhiều hơn ở mặt dƣới; gân bên 28 - 35 đôi, gân cấp 3 hình mạng nổi rõ ở mặt dƣới. Cụm hoa chùm tán ở nách lá, dài 5 - 10 cm. Lá đài hình tam giác hoặc thuôn, nhọn, hợp ngắn ở gốc, có điểm tuyến và lông mi.
Cánh hoa màu hồng, hình mác, dài 3 mm, đầu tù hoặc nhọn, có điểm tuyến. Nhị ngắn hơn cánh hoa, bao phấn hình mác nhọn, chỉ nhị rất ngắn. Quả hạch hình cầu, đƣờng kính 7 - 8 mm, màu đỏ, có điểm tuyến. Hạt hình cầu, lõm ở gốc (Hình 1.1 Cây Khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard.
Sinh học và sinh thái Cây ra hoa tháng 4 - 6, có quả tháng 1 - 2 và 9 - 12 (n m sau). Tái sinh bằng hạt. Câ ƣa bóng, mọc dƣới tán rừng ẩm, nhiều mùn, ven suối, ở độ cao 400 - 1200 m. Phân bố Trong nước: Lào Cai (Sapa), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Tâ (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phƣơng), Thanh Hoá (Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thạch Thành), Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế (Phú Lộc), Đà Nẵng.
Thế giới: Trung Quốc (Hải Nam, Quảng Tây). Dƣợc tính Cây Khôi nhung là cây thuốc dân tộc nổi tiếng, nó đƣợc dùng để chữa đau bụng và đau dạ dày hiệu quả. Lá khôi nhung có thành phần chính là tanin và glucosid sẽ giúp trung hòa và giảm sự t ng tiết acid dạ dày rất hiệu quả. Khi dịch vị trong dạ dà đƣợc ổn định, các chứng ợ nóng, ợ chua cũng giảm dần và hết hẳn, giúp ngƣời bệnh có cảm giác dễ chịu, nhẹ bụng.
Sau khi giúp trung hòa và giảm tiết acid dạ dày, các thành phần trong lá Khôi nhung tiếp tục phát huy tác dụng giảm co thắt cơ trơn, chống viêm, ức chế vi khuẩn HP, làm se vết loét, làm liền sẹo, kích thích lên da non. Nhờ cơ chế này, lá Khôi nhung đặc biệt hiệu quả trong điều trị bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng, giúp giảm đau và làm lành dạ dày, tá tràng nhanh chóng (Đỗ Tất Lợi, 2011; An và cs. Chi Ardisia có khoảng 500 loài, phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Chen và cs. Một số loài thuộc chi nà đƣợc sử dụng làm cây cảnh, thực phẩm và dƣợc liệu.
Quả chín của một số loài nhƣ Ardisia elliptica Thumb. (Morton và cs. (Sundri al và cs., 2 1), đƣợc sử dụng làm nguồn thực phẩm của con ngƣời. Có khoảng 15 loài thuộc chi Ardisia đƣợc chứng minh là có tác dụng chữa bệnh nhƣ: ung thƣ (Ardisia cornudentata Mez.); tiêu chảy (Ardisia crispa, Ardisia odontophylla Wall., và Ardisia villosa Roxb.); viêm gan (Ardisia villosa) 7 và thấp khớp (Ardisia crassa C.
Clark, Ardisia crispa, Ardisia odontophylla và Ardisia villosa) (Johnson và cs. Nhiều nhóm chất có hoạt tính sinh học cao bao gồm peptide (Fujioka và cs., 1988), saponin (Zhang và cs., 1993; Koike và cs.), coumarin (Liu và cs., 1993; Jia và cs., 1995), quinone và alkylphenol (Fukuyama và cs.,1995) đƣợc ly trích từ các loài thuộc chi này. Bên cạnh các hợp chất steroid và triterpennoid ly trích từ câ Khôi nhung đã đƣợc công bố, hai hợp chất 2-methyl-5-(Z-nonadec-14-enyl) resorcinol và 5-(Z- nonadec-14-en l) resorcinol đƣợc phân lập từ lá của Ardisia silvestris (Anh và cs. Gần đâ , V n Ngọc Hƣớng và cộng sự (2 7) đã tiến hành phân lập và xác định cấu trúc phân tử các hợp chất đƣợc ly trích từ lá cây Khôi nhung.