phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về kiểm tra các tổ chức nghiên cứu và triển khai. Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác kiểm tra các tổ chức nghiên cứu và triển khai. Xây dựng quy trình kiểm tra các tổ chức nghiên cứu và triển khai.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 1. Khái niệm tổ chức nghiên cứu và triển khai 1. Khái niệm nghiên cứu và triển khai Hiện nay trong các văn bản quy phạm pháp luật và pháp quy hiện hành thƣờng sử dụng thuật ngữ “Nghiên cứu và phát triển” thay cho thuật ngữ “nghiên cứu và triển khai”. Khái niệm “Phát triển” trong Luật KH&CN hoàn toàn trùng khớp với khái niệm “Triển khai” mà GS Tạ Quang Bửu đã chuyển ngữ từ khái niệm Dévelopement expérimental của UNESCO 1.
Vì vậy, trong luận văn này xin đƣợc dùng thuật ngữ “nghiên cứu và triển khai” thay cho thuật ngữ “nghiên cứu và phát triển” mà Luật KH&CN đang sử dụng. Bởi từ lâu khái niệm “triển khai” đã đi vào hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học. Khái niệm nghiên cứu và triển khai (viết tắt của nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm) đƣợc định nghĩa theo UNESCO, là những công việc có tính sáng tạo và hệ thống đƣợc tiến hành nhằm tăng cƣờng khối kiến thức, bao gồm kiến thức về con ngƣời, văn hoá và xã hội, và việc sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những áp dụng mới. Nói đến nghiên cứu và triển khai là để nói nên một cách phân loại nghiên cứu khoa học.
Trong trƣờng hợp này NC&TK đƣợc phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu khoa học. Thông thƣờng, ngƣời ta phân chia nghiên cứu khoa học thành 3 loại2: - Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới. 1 Phân biệt “triển khai” và “ phát triển” những đối tƣợng khác nhau của Luật KH&CN, Tin ngày 11/8/2008 của Tạp chí Hoạt động Khoa học.
2 Vũ Cao Đàm, Giáo trình Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản giáo dục, năm 2008. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng quy luật đƣợc phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp. - Triển khai thực nghiệm: gọi tắt là triển khai, là sự vận dụng các lý thuyết để đƣa ra các vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: - Tạo mẫu: Kết quả nghiên cứu tạo ra các vật mẫu hoặc các sản phẩm mẫu, thƣờng là đơn chiếc, có tính năng hoặc hiệu quả kinh tế - kỹ thuật vƣợt trội so với các sản phẩm cùng loại hiện hành.
- Tạo quy trình: kết quả nghiên cứu tạo ra quy trình sản xuất mới. - Làm thí nghiệm loạt nhỏ: Bƣớc nghiên cứu cuối cùng nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất tạo ra sản phẩm mới ở mức độ loạt nhỏ, sẵn sàng cho sản xuất hàng loạt trên cơ sở dây chuyền công nghệ mới. Khái niệm tổ chức Có rất nhiều khái niệm tổ chức. Tổ chức đƣợc định nghĩa hết sức đơn giản là công cụ để thực hiện mục tiêu.
Theo ngôn ngữ thông thƣờng tổ chức đƣợc xem nhƣ tập hợp của nhiều ngƣời, nhiều nhóm ngƣời nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một ngƣời hay một nhóm ngƣời không thực hiện đƣợc. Cách hiểu tổ chức nhƣ vậy cũng vẫn còn đơn giản và nhiều khi còn gây tranh cãi, đặc biệt trong giới khoa học. Nhƣ vậy khái niệm này đòi hỏi phải bao hàm nhiều nghĩa hơn khái niệm thông thƣờng. Có thể dẫn ra một khái niệm khác về tổ chức, dựa theo “ Đại từ điển Tiếng Việt” 3, Theo đó tổ chức đƣợc hiểu là “ tập hợp ngƣời đƣợc tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung”.
Khái niệm này có cái không hay là dùng từ “đƣợc tổ chức” để diễn giải khái niệm tổ chức. Hợp lý hơn có lẽ nên dùng cụm từ “ tập hợp ngƣời đƣợc liên kết theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung”. Tuy nhiên khái niệm nêu trên rất có tính khoa học và xác thực, vì nó gắn 3 Nguyễn Nhƣ Ý, Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội 1998. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với khái niệm “cơ cấu”.
Về mặt ngôn ngữ, ở đây “cơ cấu” đồng nghĩa với “bộ máy”, ý nghĩa cơ bản tạo nên tính vận động và linh hoạt của khái niệm tổ chức. Theo ngôn ngữ khoa học thì tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung và nó có 3 đặc trƣng cơ bản4: - Tổ chức đƣợc tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng; - Có cấu trúc phân công lao động, có nghĩa là mọi ngƣời tham gia tổ chức không phải đều đƣợc nhận việc nhƣ nhau mà đƣợc giao những việc phù hợp với yêu cầu của tổ chức, trình độ và năng lực của cá nhân. Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để; - Có ban quản lý. Ban quản lý có bổn phận đại diện cho cộng đồng với công việc trong và ngoài tổ chức.
Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối và thực hiện mục tiêu của tổ chức. Nghiên cứu khoa học ngày càng trở thành hoạt động đƣợc tổ chức một cách có hệ thống, không còn là những hoạt động đơn lẻ của từng cá nhân, hay là đặc quyền của Nhà nƣớc mà là hoạt động của xã hội, với nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề tổ chức và quản lý ngày càng biểu hiện vai trò quyết định đối với sự thành công trong hoạt động nghiên cứu khoa học, một mặt nâng cao đƣợc năng suất, chất lƣợng và hiệu quả, mặt khác giảm bớt lãng phí, những rủi ro của hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong một tổ chức chúng ta thấy các cá nhân thành viên của tổ chức hoạt động có thể riêng lẻ nhƣng đều theo sự phân công lao động của tổ chức, họ không hành động theo ý thích riêng mà phải tuân thủ những thể chế, những nguyên tắc mà tổ chức cũng nhƣ xã hội đã xác lập.
Tổ chức không chỉ là một thực thể, mà còn là một thực thể xã hội đặc biệt. Thực thể xã hội đặc biệt này tạo ra những tính chất đặc trƣng của tổ chức5: 4 Phạm Huy Tiến, Tổ chức học đại cương, Hà nội, 2007, tr 2. 5 Phạm Huy Tiến, Sđd, tr 10. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tổ chức phục vụ cho việc xác lập mục tiêu và vì mục tiêu mà nó hình thành và tồn tại.
- Có sự khác biệt về vị trí, vai trò phân công lao động nhằm thực hiện mục tiêu do chính tổ chức xác lập. Và từ đó tổ chức cũng định ra những nguyên tắc, những quy định cho hoạt động của tổ chức bằng văn bản, không lệ thuộc vào ý chí cá nhân, dù cá nhân đó là những ngƣời đứng đầu tổ chức. - Tổ chức đƣợc cấu trúc bậc thang quyền lực phục vụ cho quản lý, có những bộ phận kiểm tra để điều chỉnh và đảm bảo sự hoạt động nhịp nhàng khi thực hiện mục tiêu. - Tổ chức là nơi tập hợp những con ngƣời có nguồn gốc, có trình độ văn hoá, kỹ năng, kiến thức và cƣơng vị khác nhau, nhƣng có chung một điểm là cùng nhau thực hiện mục tiêu của tổ chức, qua đó đạt đƣợc các mục tiêu cá nhân.
- Tổ chức tồn tại đòi hỏi luôn tự điều chỉnh để thích nghi với môi trƣờng và luôn có những giải pháp thúc đẩy hoạt động của các thành viên. - Tổ chức không chỉ bao gồm các cá nhân liên kết với nhau thông qua vai trò của họ trong tổ chức mà còn bao gồm cả liên minh của các nhóm lợi ích. - Thực tiễn tổ chức có cơ cấu đƣợc xác định bởi những hình thức chế ngự trong xã hội bởi việc xác định giá trị thông qua các chính sách của tổ chức cũng nhƣ định hƣớng giá trị của những nhóm lợi ích khác nhau. - Coi tổ chức là một thực thể xã hội đặc biệt cũng chính là định hƣớng quan trọng khi phân tích tổ chức.
Nhƣ vậy, về mặt nguyên lý một tổ chức hiếm khi mang trong mình nó mục tiêu riêng biệt mà nó là một công cụ để thực hiện các mục tiêu khác nhau. Chính vì vậy, các tổ chức NC&TK phải đƣợc thiết kế trên cơ sở những luận chứng khoa học, những mục tiêu xác định, phù hợp yêu cầu của đời sống xã hội.Tổ chức nghiên cứu và triển khai Từ những khái niệm tổ chức và khái niệm nghiên cứu và triển khai, chúng ta có thể đƣa ra định nghĩa tổ chức NC&TK nhƣ sau: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổ chức nghiên cứu và triển khai là tổ chức đƣợc thành lập ra với mục tiêu thực hiện những công việc có tính sáng tạo và hệ thống đƣợc tiến hành nhằm tăng cƣờng khối kiến thức, bao gồm kiến thức về con ngƣời, văn hoá và xã hội, và việc sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những áp dụng mới. Nói cách khác, Tổ chức nghiên cứu và triển khai là tổ chức đƣợc thành lập ra để thực hiện mục tiêu nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm. Hiện nay, các tổ chức NC&TK phải gắn với thị trƣờng, với sản xuất của xã hội, nghiên cứu những vấn đề sản xuất và xã hội cần mà còn phải kết hợp nghiên cứu với đào tạo.
Điều đó biểu hiện khoa học và mọi hoạt động của tổ chức NC&TK đều bắt đầu từ những nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, hƣớng vào việc thỏa mãn các nhu cầu bằng các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Ngoài ra, tổ chức NC&TK không quên nhiệm vụ đào tạo đội ngũ kế cận cũng nhƣ nâng cao trình độ của cán bộ nghiên cứu. Theo đó toàn bộ tiềm lực nghiên cứu khoa học phải đƣợc xây dựng theo định hƣớng phục vụ thị trƣờng, nhu cầu xã hội, gắn lợi ích của xã hội với mục tiêu của mỗi tổ chức này.