CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN Đối với các khách hàng cũ mà truớc đây chua từng đuợc công ty kiểm toán nào thực hiện kiểm toán, KTV có thể thu thập các thông tin về khách hàng qua sách báo, tạp chí chuyên ngành và các tài liệu có liên quan khác. Đối với khách hàng tiềm năng, KTV mới phải liên lạc với KTV cũ của công ty kiểm toán khác nếu khách hàng này trước đây đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán đó để có thông tin đầu tiên nhằm đánh giá về khách hàng trước khi quyết định chấp nhận hay từ chối hợp đồng kiểm toán. Đặc biệt, KTV phải xem xét khả năng có thể kiểm toán của khách hàng và đây là nhân tố quan trọng nhất để đánh giá việc chấp nhận kiểm toán.
KTV chỉ có thể tiến hành kiểm toán khi hệ thống kế toán của khách hàng cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng minh cho nghiệp vụ đã phát sinh và đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ cần được ghi chép thì thực tế đã được ghi lại. Những nghi ngờ về hệ thống kế toán có thể làm KTV kết luận rằng khó có thể có bằng chứng tin cậy và đầy đủ để làm căn cứ cho ý kiến của KTV về BCTC. Nhận diện các lỷ do kiểm toán của công ty khách hàng Bản chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việc xác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ. Đây là hai yếu tố chính ảnh hưởng tới số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà KTV đưa ra trong BCKT.
Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán Chuấn mực kiểm toán chung được thừa nhận (GAAS) nêu rõ “quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một KTV”. Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên phải đảm bảo được yêu cầu về số lượng, trình độ chuyên môn và sự phân công công việc hợp lý giữa các nhân viên này. Hợp đồng kiểm toán Khi đã xem xét các vấn đề trên và quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng, công ty kiểm toán phải ký hợp đồng kiểm toán với công ty khách hàng ghi nhận sự thỏa thuận chính thức về việc thực hiện dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan. Hợp đồng kiểm toán được ký kết phải bao gồm các nội dung về mục tiêu và phạm vi kiểm toán, trách nhiệm của BGĐ khách hàng và KTV, hình thức thông báo kết quả kiểm toán, thời gian thực hiện cuộc kiểm toán, thời gian phát hành BCKT chính thức, phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.2 Thu thập thông tin về khách hàng Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, KTV tiến hành thu thập các thông tin về khách hàng nhằm có đuợc nhằm có đuợc những hiểu biết đầy đủ về hoạt động của đơn vị, hệ thống kế toán và HTKSNB cũng như các vấn đề tiềm ẩn, từ đó KTV sẽ xác định SVTH: ĐẶNG BẢO NGHI LỚP: D14CQKT02-N TRANG 17 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN đuợc trọng tâm của cuộc kiểm toán và từng phần hành kiểm toán để bố trí nhân lực và thời gian thực hiện cuộc kiểm toán. Những thông tin mà KTV cần quan tâm trong buớc công việc này: a. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lỷ của khách hàng Đối với quá trình kiểm toán tài sản cố định, KTV cần phải thu thập đuợc chứng từ pháp lý và sổ sách như: Chứng từ pháp lý: Biên bản góp vốn, bàn giao vốn, các chứng từ liên quan đến việc góp vốn bằng Tài sản cố định; biên bản kiểm kê Tài sản cố định tại thời điểm chia cắt niên độ (Truờng hợp KTV không chứng kiến kiểm kê tại thời điểm kiểm kê thì KTV cần thiết phối họp với khách hàng tổ chức kiểm kê bổ sung tại thời điểm kiểm toán và tiến hành cộng, trừ lùi để xác định số dư thực tế tại thời điểm kết thúc năm tài chính). Sổ sách: Sổ cái, sổ chi tiết Tài sản cố định và sổ chi tiết khấu hao Tài sản cố định Các loại giấy tờ có liên quan khác.
Tìm hiểu về tình hình kỉnh doanh của khách hàng Theo VSA 310 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh, đoạn hai có dẫn: “Để thục hiện kiểm toán Báo cáo tài chính, Kiểm toán viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích đuợc các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của các đơn vị đuợc kiểm toán mà theo Kiểm toán viên thì có ảnh huởng trọng yếu đến Báo cáo kiểm toán”. Sự hiểu biết về tình hình kinh doanh tức là những hiểu biết chung nhất về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động cũng như cơ cấu tổ chức, cơ cấu vốn. Nhờ đó, KTV sẽ có cái nhìn tổng quát nhất về cuộc kiểm toán của Công ty khách hàng. Đối với phần hành Tài sản cố định, KTV cần quan tâm tới các thông tin sau: - Hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh của khách hàng: Việc tìm hiểu những thông tin này sẽ giúp KTV xác định được tình hình mua sắm, quản lý Tài sản cố định có phù hợp với lĩnh vực hoạt động và tình hình tài chính của đơn vị hay không, từ đó tài sản cố định có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC của khách hàng hay không.
- Môi trường kinh doanh và các yếu tố ngoài sản xuất kinh doanh có tác động đến việc quản lý cũng như quyết định mua sắm, thanh lý tài sản cố định của Công ty khách hàng như thế nào. - Những mục tiêu cũng như chiến lược hoạt động kinh doanh của đơn vị, đó là một trong những yếu tố quan trọng để KTV làm căn cứ xác định trong tương lai đơn vị có đầu tư mua sắm hay thanh lý, nhượng bán Tài sản cố định. SVTH: ĐẶNG BẢO NGHI LỚP: D14CQKT02-N TRANG 18 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG 1.3 Thực hiện các thủ tục phân tích Ở trong giai đoạn này, sau khi đã thu thập được thông tin về khách hàng, KTV tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích. Theo VSA 520 - Quy trình phân tích có dẫn: “Thủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.
Thủ tục phân tích được các KTV áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán và được thực hiện trong tất cả các giai đoạn kiểm toán. Nhờ có thủ tục phân tích, KTV có thể dễ dàng phát hiện ra những đối ứng bất thường từ đó tìm ra các sai sót trên BCTC của khách hàng; bên cạnh đó, KTV cũng xác định được tính hoạt động liên tục của Công ty khách hàng thông qua sự phân tích cụ thể về hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Các thủ tục phân tích được KTV sử dụng gồm hai loại cơ bản sau: - Phân tích ngang: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC. Đối với phần hành Tài sản cố định, KTV có thể so sánh số liệu năm nay với số liệu năm trước để thấy những biến động bất thường và xác định được nguyên nhân của những biến động đó.
Đồng thời, KTV có thể so sánh dữ liệu của khách hàng với số liệu của ngành trong cùng kỳ. - Phân tích dọc: Là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục trên BCTC. Đối với Tài sản cố định, KTV có thể tính toán một số tỷ suất như tỷ suất hoàn vốn của Tài sản cố định để thấy được khả năng thu hồi của vốn đầu tư vào Tài sản cố định; tỷ suất giữa tổng giá trị tài sản cố định với vốn chủ sở hữu để thấy mức độ đầu tư vào Tài sản cố định so với vốn chủ sở hữu.4 Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát Việc nghiên cứu về HTKSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán là phần công việc quan trọng mà KTV cần phải thực hiện trong một cuộc kiểm toán. Theo VSA 500 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, KTV phải có đủ hiểu biết biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán một cách có hiệu quả.
Trên cơ sở đó, KTV sẽ thiết kế được những thủ tục kiểm toán thích hợp cho từng khoản mục trên BCTC, đánh giá được khối lượng và độ phức tạp cho cuộc kiểm toán, từ đó ước tính được thời gian và xác định được trọng tâm của cuộc kiểm toán. SVTH: ĐẶNG BẢO NGHI LỚP: D14CQKT02-N TRANG 19 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN HTKSNB càng hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát càng nhỏ và ngược lại, rủi ro kiểm soát càng cao khi HTKSNB yếu kém. KTV khảo sát HTKSNB trên các phương diện chủ yếu sau: - KSNB đối với khoản mục Tài sản cố định được thiết kế như thế nào.
Sau khi tiến hành các công việc trên, KTV cần đánh giá rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm kiểm soát. Bước công việc này được thực hiện như sau: - Xác định loại gian lận và sai sót có thể xảy ra trong khoản mục Tài sản cố định. - Đánh giá tính hiện hữu của HTKSNB trong việc phát hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sót đó. - Nếu mức rủi ro kiểm soát là không cao ở mức tối đa và KTV xét thấy có khả năng giảm bớt được rủi ro kiểm soát xuống một mức thấp hơn, KTV sẽ xác định các thử nghiệm kiểm soát cần thiết.
Ngược lại, nếu mức kiểm soát được đánh giá ở mức cao và xét thấy không có khả năng giảm được trong thực tế, KTV không cần thực hiện các thử nghiệm kiểm soát mà phải tiến hành ngay các thử nghiệm cơ bản ở mức độ hợp lý. Đối với khoản mục Tài sản cố định, KTV cần có các thông tin của khách hàng về HTKSNB đối với khoản mục này. HTKSNB coi là hiện hữu được thể hiện thông qua việc bảo vệ và quản lý tốt tài sản cố định. Khi tìm hiểu về HTKSNB đối với Tài sản cố định, KTV cần quan tâm tới các vấn đề sau đây: - Doanh nghiệp có thiết lập kế hoạch và dự toán ngân sách cho việc mua sắm tài sản cố định hay không.