CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUY TRÌNH GIAO NHẬN NHẬP KHẨU HÀNG NGUYÊN CONTAINER BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1.1 Các khái niệm cơ bản về giao nhận hàng hóa 1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận, người giao nhận 1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về dịch vụ giao nhận mà chỉ có những khái niệm khác nhau. Tùy thuộc vào gốc nhìn của mỗi quốc gia, của mỗi tổ chức cũng như những quan điểm riêng mà các nhà kinh tế, các tổ chức mà họ đưa ra các khái niệm khác nhau về nó. Có nhiều khái niệm về giao nhận: “Giao nhận là một hoạt động kinh tế có liên quan đến hoạt động vận tải nhằm đưa hàng đến đích an toàn”. “Giao nhận là một tập hợp các nghiệp vụ có liên quan đến quá trình vận tải, nhằm mục đích chuyên chở hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng”.
“Giao nhận là dịch vụ có liên quan đến vận tải,nhưng không phải là vận tải”.2 Khái niệm về người giao nhận Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là “Người giao nhận – Forwading – Freight Forwarder – Forwading Agent”. Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác. Người giao nhận có trình độ chuyên môn như: - Biết kết hợp giữa nhiều phương thức vận tải khác nhau. - Biết kết hợp giữa vận tải – giao hàng – xuất nhập khẩu và liên hệ tốt với các tổ chức có liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa như hải quan, Đại lý tàu,.
- Biết tận dụng tối đa dung tích, trọng tải của các công cụ vận tải nhờ vào dịch vụ gom hàng. Người giao nhận còn tạo điều kiện cho người kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động có hiệu quả nhờ vào dịch vụ giao nhận của mình.2 Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận 1.1 Quyền hạn và nghĩa vụ người giao nhận Điều 167 Luật thương mại quy định, người giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau đây: - Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác. - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. - Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
- Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thể thực hiện được chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn thêm. - Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý , nếu trong hợp đồng không thỏa thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng.2 Trách nhiệm của người giao nhận Khi là đại lý của chủ hàng Tùy theo chức năng của người giao nhận, người giao nhận phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải chịu trách nhiệm về: + Giao hàng không đúng chỉ dẫn + Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm hàng hóa mặc dù đã có hướng dẫn. + Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan. + Chở hàng đến sai nơi quy định.
+ Giao hàng cho người không phải là người nhận. + Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng. + Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế. + Những thiệt hại về tài sản và người của người thứ ba mà anh ta gây nên.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý người giao nhận không chịu trách nhiệm về hành vi lỗi lầm của người thứ ba như người chuyên chở hoặc người giao nhận khác. nếu anh ta chứng minh được là đã lựa chọn cần thiết. Khi làm đại lý người giao nhận phải tuân thủ “điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” của mình. Khi là người chuyên chở 5 Khi là một người chuyên chở, người giao nhận đóng vai trò là một nhà thầu độc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ mà khách hàng yêu cầu.
+ Anh ta phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của người chuyên chở, của người giao nhận khác mà anh ta thuê để thực hiện hợp đồng vận tải như thể là hành vi và thiếu sót của mình. + Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của anh ta như thế nào là do luật lệ của các phương thức vận tải quy định. Người chuyên chở thu ở khách hàng khoản tiền theo giá cả của dịch vụ mà anh ta cung cấp chứ không phải là tiền hoa hồng. Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trường hợp anh ta tự vận chuyển hàng hóa bằng các phương tiện vận tải của chính mình mà còn trong trường hợp anh ta, bằng việc phát hành chứng từ vận tải của mình hay cách khác, cam kết đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở.
+ Khi người giao nhận cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như đòng gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối. thì người giao nhận sẽ chịu trach2 nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhận thực hiện các dịch vụ trên bằng phương tiện của mình hoặc người giao nhận đã cam kết một cách rõ ràng hay ngụ ý là họ chịu trách nhiệm như một người chuyên chở. Khi đóng vai trò là người chuyên chở thì các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn thường không áp dụng mà áp dụng các công ước quốc tế hoặc các quy tắc do Phòng thương mại quốc tế ban hành. Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng của hàng hóa phát sinh từ những trường hợp sau đây: Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy thác Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa Do chiến tranh, đình công Do các trường hợp bất khả kháng 1.3 Phương thức và nguyên tắc giao nhận Phương thức giao nhận là giao nhận hàng hóa giữa người vận chuyển với người nhận hàng.
Lúc này người giao nhận có thể là chủ hàng hay một đại lý giao nhận hàng nào đó. Gồm các phương thức giao nhận hàng hóa như giao nhận nguyên bao, nguyên kiện, nguyên bó; giao nhận nguyên ham, giao nhận theo số lượng, trọng lượng hoặc 6 thể tích; giao nhận theo mớn nước; giao nhận nguyên container. Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hóa tại các cảng biển Việt Nam như sau: - Việc giao nhận hàng hóa tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng ủy thác với cảng. - Đối với những hàng hóa không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do các chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác giao nhận trực tiếp với người vận tải (tàu).
Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác phải kết toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thỏa thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các chi phí có liên quan. - Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện. Trường hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thỏa thuận với cảng và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho cảng. - Khi được ủy thác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu với tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa khi hàng đã ra khỏi kho bãi, cảng. - Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được ủy thác phải xuất trình những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một các liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hóa ghi trên chứng từ. Việc giao nhận có thể do cảng làm theo ủy thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm.2 Các chỉ tiêu đánh giá quy trình giao nhận hàng hóa Nhóm chỉ tiêu theo chất lượng dịch vụ: An toàn hàng hóa Sự an toàn của hàng hóa trong quy trình giao nhận của một công ty giao nhận cũng là một trong những chỉ tiêu để đánh giá hoạt động giao nhận của một công ty. Khi khách hàng giao hàng cho công ty giao nhận để làm dịch vụ xuất hàng hay nhập hàng thì công ty phải đảm bảo sự an toàn của hàng hóa.
Không mất mát, hư hỏng hay thất thoát trong quá trình làm hàng. Sự an toàn của hàng hóa tạo nên niềm tin nơi khách hàng, tạo nên uy tín của công ty. Thiết kế, bố trí hợp lý Đó là quy trình nghiệp vụ giao nhận hàng hóa bao gồm các công đoạn được thiết 7 kế, bố trí một cách khoa học tạo thành một dây truyền khép kín, trong đó, nhân lực, thiết bị, phương tiện được bố trí hợp lý, phù hợp với tính chất, yêu cầu của từng công đoạn, công việc thực hiện. Tiêu chí này được đo lường theo khía cạnh như sau: - Quy trình giao nhận được thiết kế, bố trí khép kín.
- Các công đoạn của quy trình giao nhận được thiết kế, bố trí phù hợp. - Thiết bị, phương tiện được bố trí hợp lý đáp ứng yêu cầu công việc. - Nhân viên được bố trí hợp lý phù hợp với yêu cầu công việc ở mỗi công đoạn. - Nhà quản trị có đủ năng lực quản lý, điều hành các công việc.
- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện công việc. Đồng bộ và nhịp nhàng Đó là các công việc được thực hiện trên các công đoạn của quy trình giao nhận hàng hóa diễn ra một cách đồng bộ, nhịp nhàng; công việc ở công đoạn trước hoàn thành được chuyển ngay sang công đoạn sau để thực hiện; công đoạn sau không phải chờ công đoạn trước hoàn thành, nhân lực và thiết bị, phương tiện không phải ngừng nghỉ hoặc chạy không tải. Tiêu chí này được đo lường theo các khía cạnh như sau: - Các công việc diễn ra một cách đồng bộ trên toàn bộ quy trình giao nhận. - Các công việc diễn ra một cách nhịp nhàng trên toàn bộ quy trình giao nhận.
- Công đoạn, công việc trước hoàn thành được chuển sang công đoạn, công việc sau để thực hiện. - Các thiết bị, phương tiện hoạt động nhịp nhàng.