Khóa luận tốt nghiệp về quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp triển khai các văn bản pháp lý điều chỉnh quy trình cho vay đối với dnv n tại nhtm, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ

Trường đại học

Khoa Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh
69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNV&N

1.2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh tế

1.3. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.4. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.5. Ưu thế của DNV&N

1.6. Hạn chế của DNV&N

1.7. Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế thị trường

1.8. Khái niệm hoạt động cho vay

1.9. Đặc điểm hoạt động cho vay đối với DNV&N của ngân hàng

1.10. Vai trò của hoạt động cho vay đối với DNV&N

1.11. Chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNV&N

1.11.1. Khái niệm về chất lượng hoạt động cho vay

1.11.2. Mức độ an toàn

1.11.3. Hiệu quả kinh tế - xã hội

1.12. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động cho vay đối với DNV&N của ngân hàng thương mại

Khóa luận tốt nghiệp triển khai các văn bản pháp lý điều chỉnh quy trình cho vay đối với dnv n tại nhtm

Tài liệu "Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại" cung cấp cái nhìn tổng quan về quy trình cho vay dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các bước trong quy trình này để tối ưu hóa khả năng tiếp cận vốn. Tài liệu không chỉ giải thích các bước cần thiết mà còn chỉ ra những lợi ích mà doanh nghiệp có thể nhận được từ việc tuân thủ quy trình cho vay, như tăng cường khả năng tài chính và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về quy trình cho vay trong lĩnh vực ngân hàng, bạn có thể tham khảo tài liệu Phân tích về quy trình cho vay mua bđs tại ngân hàng tmcp hàng hải việt nam chi nhánh huế, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình cho vay mua bất động sản. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp thực trạng công tác ksnb quy trình cho vay khcn tại hdbank chi nhánh thừa thiên huế sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kiểm soát nội bộ trong quy trình cho vay. Cuối cùng, tài liệu Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng tmcp phát triển thành phố hồ chí minh chi nhánh thừa thiên huế cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về quy trình cho vay cá nhân.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm vững quy trình cho vay mà còn mở rộng hiểu biết về các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực ngân hàng.

Trích đoạn nội dung tài liệu

Khóa luân tốt nghiệp Khoa Tài chính Ngân hàng CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNV&N. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh tế. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Muốn hiểu DNV&N là gì trước hết ta cần phải tìm hiểu xem thế nào là doanh nghiệp. Theo luật doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riờng, cú trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Mỗi quốc gia có một điều kiện kinh tế khác nhau và có những đặc điểm riêng biệt. Sự phân loại các doanh nghiệp vì thế không thống nhất ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Một doanh nghiệp đặt trong điều kiện kinh tế của nước mình có thể được coi là doanh nghiệp nhỏ nhưng trong môi trường kinh tế của quốc gia khỏc thỡ lại được coi là doanh nghiệp lớn, hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tương tự tại một thời điểm trong quá khứ một doanh nghiệp được coi là lớn nhưng đến nay lại chỉ được xét là có quy mô vừa. Cho nên khi nói đến DNV&N ta phải hiểu rằng phải xét xem các doanh nghiệp đó đang nằm ở quốc gia nào, trong môi trường kinh tế như thế nào, tại thời diểm nào. Nói cách khác, khái niệm DNV&N chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia, tại một thời điểm nhất định. Tuy vậy, việc đưa ra định nghĩa về DNV&N cho riêng mình lại đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Ví dụ như: Ở Đức, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp trong ngành chế tạo dịch vụ có số lao động dưới 49 người, doanh thu năm dưới 1 triệu Mác. Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp trong nganh chế tạo và dịch vụ có số lao động dưới 499 người, doanh thu năm trên 1 triệu Mác và dưới 100 triệu Mác. Sv: Nguyễn Thị Lan Phương Lớp: TC14A _K14 Khóa luân tốt nghiệp Khoa Tài chính Ngân hàng Ở Nhật, DNV&N là doanh nghiệp trong ngành chế tạo có số lượng nhân viên dưới 300 người, vốn đầu tư dưới 100 triệu yên. Doanh nghiệp trong ngành thương nghiệp có nhân viên dưới 100 người hoặc có vốn đầu tư là 10 triệu yên. Ở Việt Nam, theo điều 3 nghị định của chính phủ số 56/2009/ND-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cú núi : “Doanh nghiệp vừa nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cṍp: siờu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (Tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiờn)”. Với tiêu chí xác định như trên thì tỷ trọng DNVVN hiện nay đã tăng lên đáng kể chiếm khoảng hơn 95% tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Đa phần các DNV&N hoạt động trong các lĩnh vực Thương mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, xây dựng và vận tải.với mức đóng góp đáng kể trong cơ cấu GDP hằng năm của đất nước. Theo tiêu chí phân loại DNV&N được đưa vào ngay trong điều 3 nghị định chính phủ số 56/2009/NĐ-CP với nội dung như sau: DN siêu DN nhỏ DN vừa Quy mô nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động Từ trên 20 Từ trên Nông,lâm Từ 10 10 người 20 tỷ đồng tỷ đồng 200 người nghiệp và người đến trở xuống trở xuống đến 100 tỷ đến 300 thủy sản 200 người đồng người Công Từ 10 Từ trên 20 Từ trên 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng 200 người trở xuống trở xuống xây dựng 200 người đến 100 tỷ đến 300 Sv: Nguyễn Thị Lan Phương Lớp: TC14A _K14 Khóa luân tốt nghiệp Khoa Tài chính Ngân hàng đồng người Từ trên 10 Thương Từ 10 Từ trên 50 10 người 10 tỷ đồng tỷ đồng mại và dịch người đến người đến trở xuống trở xuống đến 50 tỷ vụ 50 người 100 người đồng Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNV&N giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng húa cỏc tiêu chí ấy thông qua các tiêu chuẩn cụ thể. Mặc dù có những điểm khác biệt nhất định giữa các nước về quy định các tiêu chí phân loại DNV&N nhưng có thể đưa ra khái niệm chung về DNV&N như sau: “DNV&N là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân hoạt động vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo cỏc tiờu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia”. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ưu thế của DNV&N.  Năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh. Nhờ quy mô vừa và nhỏ, mô hình tổ chức quản lý đơn giản nên những doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh, đi vào những ngành nghề khác khi thấy lĩnh vực ấy có lợi hơn.  Có thể nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Số vốn đăng ký ban đầu của DNV&N không quá 10 tỷ đồng và chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ quay vòng vốn để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.  Tổ chức quản lý gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí. Với số lượng lao động không nhiều, việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNV&N tương đối nhỏ gọn, không có quá nhiều cỏc khõu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các quyết định chế độ, chỉ tiờu.đến với người lao động một cách nhanh chóng Sv: Nguyễn Thị Lan Phương Lớp: TC14A _K14 Khóa luân tốt nghiệp Khoa Tài chính Ngân hàng không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí cho quản lý doanh nghiệp.  DNV&N luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực từ phía chính phủ. Biết được tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển nền kinh tế của đất nước, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định nhằm hỗ trợ DNV&N, trong đó có nghị định 56/2009/NĐ-CP. Trong nghị định này Chính phủ đã tập trung vào trợ giúp tài chính, trợ giúp về mặt bằng sản xuất, trợ giúp về đổi mới nâng cao công nghệ kỹ thuật, trợ giúp về việc xúc tiến thị trường, trợ giúp về thông tin tư vấn, trợ giúp về phát triển nguồn nhân lực. Hạn chế của DNV&N. Bên cạnh những thuận lợi, các DNV&N cũng gặp phải rất nhiều khó khăn.  Khả năng cạnh tranh thấp do tiềm lực tài chính nhỏ. Với số lượng vốn đầu tư nhỏ các DNV&N phải tìm mọi cách vận dụng tối đa mọi điều kiện sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, các DNV&N rất khó có một môi trường sản xuất lý tưởng trong việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ những mong đợi của người tiêu dùng.  Vị thế trên thị trường thấp. Trong thị trường các DNV&N chiếm một thị phần rất nhỏ. Các DNL luôn luôn chiếm thị phần lớn và tận dụng mọi cơ hội để mở rộng thị trường của mỡnh. Chớnh vì vậy với năng lực còn hạn chế, các DNV&N luôn gặp rất nhiều áp lực để duy trì việc tiêu thụ sản phẩm và tiếp tục sản xuất kinh doanh cũng như đưa ra các phân tích, dự đoán chính xác về xu hướng thị trường để bắt kịp với sự biến đổi không ngừng trong nhu cầu của người tiêu dùng.  Năng lực quản lý còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật. Phần lớn chủ các DNV&N đều quản lý dựa trên kinh nghiệm, chưa qua đào tạo hoặc đào tạo chưa có bài bản về kinh doanh, còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản trị. Trong khi đó, với môi trường kinh doanh hiện đại, người chủ doanh nghiệp cần có trình độ cơ bản về quản lý doanh nghiệp. Từ đó áp dụng chế độ quản lý phù hợp với tính chất và đặc điểm doanh nghiệp của mình. Sv: Nguyễn Thị Lan Phương Lớp: TC14A _K14 Khóa luân tốt nghiệp Khoa Tài chính Ngân hàng  DNV&N bị hạn chế về vốn đầu tư đổi mới khoa học công nghệ giá trị cao. Thiết bị công nghệ của các DNV&N ở Việt Nam còn lạc hậu so với nhiều nước khác. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ: 10% công nghệ nước ta là hiện đại, 38% là mức trung bình, 52% lạc hậu và rất lạc hậu. Các doanh nghiệp hiện nay chỉ dành có 0,2 – 0,3% doanh thu cho đổi mới công nghệ. Trong khi đó tỷ lệ này ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%. Các nước phát triển, công nghệ và trang thiết bị của các DNV&N thường rất hiện đại không thua kém các DNL nhiều mặc dù chỳng cú quy mô vốn đầu tư và số lao động nhỏ hơn.  Trình độ tay nghề của công nhân thấp. Đây là một trong những hạn chế rất lớn đối với các DNV&N. Do vẫn còn ảnh hưởng từ cơ chế cũ hoặc do sự cạnh tranh về các mức lương nên hầu hết các lao động có thu nhập cao đều tập chung cho các công ty lớn hoặc cho các công ty liên doanh với nước ngoài. Trong khi đó ở những DNV&N, do sự hạn chế về vốn nên khó có thể đưa ra một mức lương ưu đãi. Mặt khác lại không đủ khả năng tài chính để tổ chức đào tạo tay nghề cho công nhân được đầy đủ.  Chiến lược sản xuất kinh doanh mang tính “thời vụ”. Hầu hết các DNV&N đều chiếm một thị phần rất nhỏ bộ trờn thị trường do vậy các doanh nghiệp này thường đứng ở thế bị động. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự mất ổn định trong sản xuất của các DNV&N. Các DNV&N chỉ có thể đưa ra những kế hoạch sản xuất mang tính thời vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tức thì của thị trường trong một thời điểm mà khó có khả năng đưa ra chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài cho riêng doanh nghiệp mình. Nếu người quản lý không hoạch định một kế hoạch phát triển lâu dài và linh hoạt cho doanh nghiệp thì sẽ dẫn đến sự đổ vỡ cho doanh nghiệp khi có những biến động bất thường của thị trường. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ