Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lí luận và tính pháp lí của qui hoạch sử dụng đất và qui hoạch NTM 1. Cơ sở lí luận và tính pháp lí của qui hoạch sử dụng đất Đất đai là nguồn tài nguyên không thể tái tạo và nằm trong nguồn tài nguyên hạn chế của Việt Nam. Với tổng diện tích 32.016 ha, trong đó 3/4 là đất đồi núi và cao nguyên.
Cả Nước có gần 80% dân số là sống bằng nghề nông nghiệp, nên bình quân đất nông nghiệp trên một lao động là rất thấp. Vì vậy, đặc điểm hạn chế về đất đai càng thể hiện rõ và đòi hỏi việc quản lí và sử dụng đất phải dựa trên những cơ sở khoa học. Trong quá trình xây dựng đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến vấn đề quản lí và sử dụng đất sao cho phù hợp, tiết kiệm và có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế từng bước nâng cao đời sống nhân dân lao động, để làm được điều đó Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách đáp ứng nhu cầu quản lí và sử dụng đất phù hợp với điều kiện của đất nước ta, của từng địa phương.
Trong từng thời kì Nhà nước giao cho UBND các cấp quản lí đất đai trên toàn bộ lãnh thổ của mình, đổi mới loại đất với mọi hình thức sử dụng theo đúng qui hoạch, kế hoạch, nhằm đưa công tác quản lí và sử dụng đất đai theo đúng pháp luật và đạt được hiệu quả cao nhất. Tại Chương II, Điều 18 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định "Nhà nước thống nhất quản lí đất đai theo qui hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" [5]. Đến Luật đất đai năm 2003 lại khẳng định lại một lần nữa "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" [10]. Nhà nước thực hiện quiền điều tiết các nguồn lớn từ đất đai cho người sử dụng đất, công nhận quiền sử dụng đất thông qua hình thức giao đất.
Giao đất cho người sử dụng đất, công nhận quiền sử dụng đối với người đang sử dụng đất ổn định, qui định quiền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. n Luật đất đai năm 2003 đã nêu qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lí Nhà nước về đất đai. Qui hoạch đất đai là một hệ thống các biện pháp nhằm tổ chức sử dụng đất đai đầy đủ hợp lí các tư liệu sản xuất khác có liên quan đến đất đai, phân bổ nguồn nhân lực lao động trên toàn lãnh thổ, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kết hợp với việc bảo vệ đất và môi trường. Qua đó chúng ta cũng thấy được việc qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà còn là lâu dài.
Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ và phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, qui hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành làm cơ sở tiến hành giao đất và cấp giấy chứng nhận quiền sử dụng đất, đầu tư để phát triển sản xuất, để đảm bảo lương thực phục vụ cho nhu cầu dân sinh, xã hội cải tạo và bảo vệ được tốt hơn. Như vậy qui hoạch sử dụng đất đai và hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lí đất đai đầy đủ, hợp lí, khoa học và có hiệu quả, làm sao đạt được cả ba mục đích: "kinh tế - xã hội và môi trường". Tổ chức sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kết hợp với việc bảo vệ môi trường. Kết quả của một quá trình qui hoạch đất đai là phải xây dựng được một phương án qui hoạch đất đai có hiệu quả, luận chứng khoa học, có tác dụng thực tiễn và đem lại hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng đất đai trên lãnh thổ.
Mục tiêu của phương án là tạo ra cơ sở không gian hợp lí để bố trí các ngành sản xuất nhằm áp dụng đất đầy đủ, hợp lí, hiệu quả kinh tế và đáp ứng được các nhu cầu đối với từng ngành, ngoài ra cần phải thực hiện các biện pháp cải tạo bảo vệ và bồi bổ cho đất, tạo điều kiện bảo vệ tài nguyên và môi trường. Do đó phải qui hoạch trong việc sử dụng đất cần phải xác định đúng nội dung và trình tự hợp lí nhất. Cơ sở lí luận và tính pháp lí của qui hoạch Nông thôn mới Căn cứ vào văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình phát triển Nông thôn mới từ huyện, tỉnh và Trung ương. Gồm các văn bản sau: n - Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới; - Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình rà soát qui hoạch xây dựng Nông thôn mới; - Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới; - Thông báo số 221/TB-VPCP ngày 20 tháng 8 năm 2010 thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới; - Nghị quiết số 26 - NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, khóa X về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn; - Nghị quiết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quiết số 26 - NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy khóa X; - Thông tư số 54/2009/TT-BNN ngày 21/8/2009 của Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn, hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới; - Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về qui định lập nhiệm vụ, đồ án qui hoạch và quản lí xây dựng Nông thôn mới; - Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT - BXD + BNNPTNT + BTN&MT ngày 28/10/2011 của Bộ xây dựng, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, qui định việc lập, thẩm định, phê duyệt qui hoạch xây dựng xã Nông thôn mới; - Hướng dẫn số 470/HD-SXD ngày 20/11/2011 của Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang, hướng dẫn lập nhiệp vụ và thuyết minh đồ án qui hoạch Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; - Qui chuẩn kĩ thuật Quốc gia về qui hoạch xây dựng Nông thôn mới; - Tiêu chuẩn kĩ thuật về xây dựng Nông thôn ban hành theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng; n - Quiết định số 2933/BGTVT-KHĐT ngày 23/02/2011 của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn tiêu chí Nông thôn mới trong lĩnh vực giao thông; - Số liệu tổng kết công tác kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch của UBND xã Minh Thanh trong các năm 2009; 2010 và năm 2011; - Nghị quiết của Đảng bộ xã Minh Thanh, nhiệm kì 2010 - 2015.
Khái quát về qui hoạch Nông thôn mới 1. Khái niệm về Nông thôn mới Theo tinh thần Nghị quiết 26-NQ/TW của Trung ương, Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; An ninh trật tự được giữ vững; Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; Theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần đó, Nông thôn mới có 5 nội dung cơ bản: + Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại. + Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa.
+ Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. + Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển. + Năm là xã hội nông thôn được quản lí tốt và dân chủ. Để xây dựng Nông thôn với 5 nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã kí Quiết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí.
Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng NTM Có thể nói, xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Việt Nam. Trước đây, có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng Nông thôn mới ở cấp xã. Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng Nông thôn mới chính là ở những điểm sau: n - Thứ nhất, xây dựng Nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả nước được định trước. - Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí điểm nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm.
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng Nông thôn mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng. - Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu Quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn. Tình hình xây dựng Nông thôn mới trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình xây dựng Nông thôn mới trên thế giới * Tình hình xây dựng Nông thôn mới tại đất nước Nhật Bản Đất nước Nhật Bản đã thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới từ phong trào "Mỗi làng một sản phẩm".
Từ năm 1979 Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (one village, one product), với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả đất nước Nhật Bản. Người khởi xướng phong trào OVOP là Tiến sĩ Mo-ri-hi-kô Hi-ra-mát-su. Ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP, đó là: địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quiền địa phương trong việc hỗ trợ kĩ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái.