Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách nhà nƣớc tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga/BQP. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ NSNN tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga/BQP.
3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ giai đoạn trƣớc, đề tài về vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản nói riêng và quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản nói chung là đề tài nhận đƣợc nhiều sự quan tâm từ các học giả, các chuyên gia nghiên cứu, đặc biệt là trong giai đoạn mà Việt Nam đẩy mạnh hoạt động xây dựng cơ bản một cách mạnh mẽ. Trong phạm vi của đề tài, tác giả trích dẫn một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: - Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giảCấn Quang Tuấn (Năm 2009): “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước do thành phố Hà Nội quản lý”. Đề tài đã tập trung khai thác một số vấn đề chung về đầu tƣ phát triển và vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản tập trung thuộc ngân sách nhà nƣớc, từ đó phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nƣớc thành phố Hà Nội thời gian qua và đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ XDCB tập trung từ NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Đoàn Kim Khuyên Trƣờng đại học Đà Nẵng (Năm2012) "Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng"; Đề tài đã hệ thống hoá đƣợc một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc , quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc. Làm rõ thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách Nhà nƣớc tại kho bạc Nhà nƣớc Đà Nẵng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát thanh 4 z toán vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN tại Kho bạc Nhà nƣớc Đà Nẵng trong thời gian tới. - Luận án tiến sỹ Kinh tế của tác giảNguyễn Thị Bình- Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân ( Năm 2013): “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải Việt Nam”. Luận án đã nghiên cứu vấn đề cơ bản về quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc, và đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nƣớc trong ngành giao thông vận tải Việt Nam hai năm gần đây.
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Huy HuyếnTrƣờngĐại học Kinh tế Quốc dân (2013) về "Hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tƣ XDCB tại kho bạc Nhà nƣớc tỉnh Lai Châu"; Đề tài đã cung cấp cơ sở lý luận đầy đủ về việc kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản qua kho bạc Nhà nƣớc , phân tích đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát chi và đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng kiểm soát chi đầu tƣ XDCB qua hệ thống KBNN tỉnh Lai Châu. - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Thu Phƣơng -TrƣờngHọc viện Tài chính (2015) về "Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB tại kho bạc Nhà nƣớc tỉnh Lai Châu"; Đề tài đã cung cấp cơ sở lý luận đầy đủ về việc kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nƣớc, phân tích đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát thanh toán và đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợngkiểm soát thanh toán vốnđầutƣXDCBquahệthốngKBNN tỉnh Lai Châu. Nhƣ vậy, nhìn chung, đề tài về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản là đề tài nhận đƣợc sự quan tâm từ nhiều học giả từ nhiều đơn vị khác nhau trong suốt nhiều năm qua, cũng là đề tài đƣợc nghiên cứu cả về cơ sở lý luận, thực trạng và các giải pháp, phạm vi nghiên cứu cũng ở nhiều địa phƣơng, tỉnh thành khác nhau trên cả nƣớc, và nội dung nghiên cứu cũng bao hàm 5 z nhiều khía cạnh khác nhau trong các nội dung quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản, trong đó có các nội dung về quản lý nhà nƣớc, quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN. Các công trình khoa h ọc nêu trên đã đề cập đến tình hình quản lý, phát huy vi ệc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tƣ trong việc phát triển kinh tế - xã hội.
Có những công trình nghiên cứu cụ thể về tình hình quản lý Nhà nƣớc đối với vốn đầu tƣ, có công trình nghiên cứu riêng về vốn đầu tƣ phát tri ển, cũng có những công trình nghiên cứu về phát triển một lĩnh vực riêng biệt của đầu tƣ xây dựng cơ bản… Tuy nhiên, xét về các đề tài nghiên cứu về quản lý vốn đầu tƣ XDCB tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, và trong thời điểm nghiên cứu hiện nay là không có. Vì vậy, tính trùng lặp khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này không tồn tại, đồng thời, đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn đối với riêng Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, đặc biệt là trong giai đoạn mà các yêu cầu, đòi hỏi về chất lƣợng quản lý vốn đầu tƣ XDCB tại Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga cũng nhƣ các đơn vị khác ngày càng cao. Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN 1. Một số vấn đề chung về vốn đầu tư XDCB từ NSNN 1.
Khái niệm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước * Vốn Là nguồn lực tích lũy đƣợc của xã hội, các cơ sở sản xuất vả kinh doanh dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân, đƣợc huy động từ nƣớc ngoài đƣợc biểu hiện dƣới các dạng tiền tệ các loại hoặc hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình và các loại hàng hóa đặc biệt khác. Theo bách khoa toàn thƣ của Việt Nam thì từ “vốn” đƣợc sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau nên có nhiều hình thức vốn khác nhau. Trƣớc hết, vốn đƣợc xem là toàn bộ những yếu tố đƣợc sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải; Vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trƣởng của nền kinh tế. * Vốn đầu tư 6 z Vốn đầu tƣ trong nền kinh tế thị trƣờng, việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện các điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích lũy của các nguồn lực.
Khi các nguồn lực này đƣợc sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tƣ. Vậy vốn đầu tƣ chính là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của nhân dân và vốn huy động từ nguồn khác, đƣợc đƣa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. * Vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt đƣợc mục đích đầu tƣ bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác đƣợc tính trong dự toán. Theo Luật đầu tƣ số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014của Quốc hội: “Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Có thể hiểu nhƣ sau: Đầu tƣ XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tƣ nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản đƣợc hình thành từ các nguồn: thứ nhất là nguồn trong nƣớc, đây là nguồn vốn có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn từ vốn ngân sách nhà nƣớc bao gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơngđƣợc hình thành từ sự tích lũy của nền kinh tế. Vốn tín dụng đầu tƣ do ngân hàng đầu tƣ phát 7 z triền và quỹ hỗ trợ phát triển quản lý, vốn của các cơ cở sản xuất kinh doanh dịch vụ thuộc thành phần kinh tế khác; thứ hai là vốn nƣớc ngoài bao gồm vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế nhƣ ADB, WB, các tổ chức phi chính phủ nhƣ NGO, các tổ chức chính phủ JBIC (OECF), nguồn ODA, vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thông qua hình thức 100% vốn nƣớc ngoài liên doanh, hợp đồng hợp tác khai thác kinh doanh. * Vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách nhà nước: “Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”.
Theo điều 1 Luật Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về ngân sách nhà nƣớc. Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nƣớc; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.