Chương 1: Cơ sở lý luận khoa học và pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất khu kinh tế thương mại Lao Bảo. Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất khu kinh tế thương mại Lao Bảo. Chương 3: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và đề xuất định hướng sử dụng đất đến năm 2020 khu kinh tế thương mại Lao Bảo theo hướng bền vững. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CHO QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KHU KINH TẾ THƢƠNG MẠI LAO BẢO 1.
Giới thiệu chung khu Kinh tế - Thƣơng mại Lao Bảo a. Hành lang kinh tế Đông-Tây Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) có tổng chiều dài 1.450 km đi qua 14 tỉnh, thành phố của lãnh thổ 4 nước trong khu vực Đông Nam Á (Myanma-Thái Lan-Lào và Việt Nam). Ở Việt Nam, EWEC bắt đầu từ cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị chạy dọc theo đường 9, kết nối với quốc lộ 1A ở Đông Hà, vào Thừa Thiên Huế, qua đường hầm Hải Vân đến cảng biển Đà Nẵng.1: SƠ ĐỒ VỊ TRÍ-MỐI QUAN HỆ KHU KT-TM LAO BẢO TRONG HÀNH LANG KINH TẾ Mục tiêu của EWEC nhằm tăng cường hợp tác kinh tế và xúc tiến thương mại, đầu tư và phát triển giữa 4 quốc gia trên hành lang; tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển lưu thông hàng hóa, nguyên vật liệu và đi lại của con người; hỗ trợ cho các khu vực nông thôn và biên giới, nâng cao thu nhập, tạo thêm cơ hội việc làm; phát triển du lịch, công nghiệp và nông nghiệp. Đây là cơ hội tốt cho các quốc gia tiếp cận các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa cho các thành phố, thị trấn nhỏ dọc hành lang, phát triển thương mại xuyên biên giới qua đó hình 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành các khu vực kinh tế xuyên quốc gia, sẽ góp phần quan trọng tạo điều kiện phát triển toàn diện cho các tỉnh có EWEC đi qua.
Khu kinh tế thương mại Lao Bảo Xuất phát từ lợi thế về địa lý và mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa 2 nước Việt Nam - Lào, Bộ Chính trị hai nước đã thống nhất chủ trương xây dựng Khu thương mại Lao Bảo (Việt Nam) - Đensavẳn (Lào) trở thành một khu vực phát triển, tạo cơ hội cho tỉnh Quảng Trị thu hút đầu tư, đón đầu tiến trình hội nhập, khai thác hành lang Kinh tế Đông - Tây, gắn với phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống nhân dân trong Khu vực. Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo (Khu kinh tế thương mại Lao Bảo) thuộc địa bàn miền núi, biên giới của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị gồm 05 xã (xã Tân Hợp, Tân Long, Tân Liên, Tân Lập, Tân Thành), 02 thị trấn (thị trấn Lao Bảo, Khe Sanh) với diện tích 16.195,99 ha, phân bố dọc theo QL 9 với chiều dài 25 km, dân số năm 2010 khoảng 39.572 người (chiếm 54% dân số toàn huyện) với 03 dân tộc chính là Kinh, Vân Kiều, Pacô, trong đó chiếm đa số là người Kinh 86,74%, Vân Kiều 12,29%, còn lại là Pacô chiếm 0,79% so với tổng dân số toàn Khu. Với vị trí địa lý, chính trị và quốc phòng quan trọng không chỉ đối với tỉnh Quảng Trị mà còn cả khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước. Một đầu mối quan trọng của hành lang Kinh tế Đông - Tây nối liền 14 tỉnh của 4 quốc gia phía Tây (Lào, Thái Lan, Myanma, Việt Nam) với cảng Cửa Việt của tỉnh và hệ thống cảng biển miền Trung, qua đường 9 nối liền với đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 1 và với khu Kinh tế Đông Nam của tỉnh, theo đường biên giới nối với khu cửa khẩu La Lay, tạo thế liên kết vùng phía Tây và vùng ven biển, Khu Kinh tế Đông - Nam của tỉnh, các đô thị và lãnh thổ khác dọc theo quốc lộ 9, đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 1 của tỉnh và giao thương với các nước qua hành lang kinh tế Đông-Tây.
Là điểm đầu của Việt Nam trên hành 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lang kinh tế Đông - Tây liên kết giữa các quốc gia và lãnh thổ trong tiểu khu vực Mê Kông mở rộng. Cơ sở lý luận khoa học của quy hoạch sử dụng đất đai 1. Tổng quan cơ sở pháp lý và phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam qua các thời kỳ a. Thời kỳ trước Luật Đất đai 2003 Trong thời kỳ này, những vấn đề khác biệt căn bản đã tác động đến cơ sở pháp lý mang tính đặc thù của quy hoạch sử dụng đất ở nước ta được thể hiện khá rõ nét: Trước khi có Luật Đất đai năm 1987, quy hoạch sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức.
Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ được đề cập đến nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các cấp huyện, tỉnh, các vùng kinh tế lớn và cả nước. Trong giai đoạn này phổ biến là lập quy hoạch hợp tác xã nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng và các tỉnh Duyên hải miền trung. Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất vẫn chưa được quan tâm ở mức cần thiết. Luật Đất đai đầu tiên của nước ta được ban hành với bảy nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, trong đó có dành một điều nói về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 9 của Luật Đất đai và Điều 11 quy định về lập quy hoạch, kế hoạch.
Ở thời kỳ này đất nước đang gặp khó khăn về kinh tế nên việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhất thiết phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm thống nhất quản lý về đất, nội dung và phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp với thực trạng của đất nước và trong sản xuất của hộ nông dân. Quy hoạch sử dụng đất cấp xã phải thể hiện thực tế cuộc sống, thực tế tình hình sử dụng đất của địa phương để giải quyết các vấn đề cấp thiết như: quy hoạch giao đất, bao gồm cả đất đang sản xuất và đất để khai hoang mở rộng diện tích; quy hoạch giãn dân. Ngày 15/4/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Thông tư số 106/QHKH/RĐ hướng dẫn về công tác quy 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạch phân bố đất đai và tài liệu hướng dẫn lập quy hoạch phân bố đất đai theo lãnh thổ hành chính xã ngày 17/8/1992.
Thời kỳ này đã thấy rõ được tầm quan trọng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tại cấp huyện, tỉnh và cả nước chỉ được đề cập như phương hướng sử dụng tài nguyên đất mà chủ yếu phục vụ cho phát triển nông, lâm nghiệp. Thời kỳ từ 1993-2003, nước ta trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chuyển dịch cơ cấu sang công nghiệp và dịch vụ nên áp lực đối với đất đai rất. Tháng 7/993 Luật Đất đai được công bố (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1998 và 2001) đã được cụ thể hoá hơn so với Luật Đất đai 1987, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Điều 13 là một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai, trong đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý được quy định trong hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để nhà nước giao đất, cho thuê đất. Ngoài các văn bản có tính pháp lý ở mức độ cao, còn có các văn bản dưới luật và các văn bản ngành, cũng như các văn bản của từng địa phương đề cập đến vai trò, ý nghĩa lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay Từ khi Luật Đất đai 2003 ra đời thì công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta đi vào nề nếp và định hướng sử dụng đất được cụ thể hơn tại các địa phương.
Các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tại từng khu vực được thể hiện cụ thể từ Điều 21 đến Điều 30 gồm 10 điều liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nghị định hướng dẫn thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định cụ thể hơn tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai đó 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dành riêng Chương III gồm 18 điều (từ Điều 12 đến Điều 29) để cụ thể hóa những vấn đề cơ sở pháp lý liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Nghị định số 69/2009/NĐ- CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 06/2010/TT- BTNMT ngày 30/6/2005 ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Một số vấn đề chung về đất đai a.
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai Đất đai là nguồn tư liệu để phát triển sản xuất, chính vì vậy đất đai có mối quan hệ với phát triển kinh tế xã hội. Đây là hoạt động có mối quan hệ với các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của quy hoạch sử dụng đất. Mặt khác quy hoạch là sự sắp xếp, bố trí một trật tự nhất định trên một lãnh thổ nhất định cho việc sử dụng đất theo các mục đích khác nhau. Quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng không chỉ trước mắt mà còn lâu dài.
Quy hoạch sử dụng đất là sự tổng hợp phát triển của các ngành, các cấp trên địa bàn lập quy hoạch. Quy hoạch là biện pháp của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp. Đồng thời tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, bảo đảm an ninh quốc phòng ở từng địa phương khi nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường.