mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quy hoạch phát triển Nuôi trồng thủy sản cấp huyện. Xây dựng quy hoạch phát triển Nuôi trồng thủy sản huyện Thạch Hà đến năm 2020. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CẤP HUYỆN 1.
Nuôi trồng thủy sản 1. Khái niệm Ngành thuỷ sản xuất hiện và có quá trình phát triển từ rất lâu đời với xuất phát điểm là đánh bắt và NTTS. Thời kỳ đầu đánh bắt thuỷ sản đƣợc coi là ngành quan trọng chủ yếu cấu thành nên ngành Thuỷ sản. Vì vậy, ở thời điểm đó NTTS chƣa phát triển và con ngƣời chƣa ý thức đƣợc việc tái tạo nguồn lực và đảm bảo môi trƣờng cho sự phát triển của các loài thuỷ sản.
Những thập kỷ gần đây, khi sản phẩm thuỷ sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ sụt giảm và cạn kiệt vì đánh bắt quá nhiều, tràn làn trong điều kiện nguồn lực có hạn thì NTTS ngày càng phát triển và trở nên quan trọng. Chính vì thế ngành NTTS đƣợc nhìn nhận trên nhiều quan điểm nhƣ sau: Theo giáo trình kinh tế thuỷ sản: NTTS là một bộ phận sản xuất có tính nông nghiệp nhằm duy trì bổ sung, tái tạo, và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, các sản phẩm thuỷ sản đƣợc cung cấp cho các hoạt động tiêu dùng và chế biến xuất khẩu. Hoạt động nuôi trồng diễn ra trên nhiều loại hình mặt nƣớc với nhiều chủng loại khác nhau, bên cạnh đó sự phát triển của khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt động NTTS. Quan điểm của các nhà kinh tế học: NTTS là một hoạt động sản xuất tạo ra nguyên liệu thuỷ sản cho qúa trình tiêu dùng sản phẩm hoạt động xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Quan điểm của các nhà sinh học: NTTS là hoạt động tạo ra các điều kiện sinh thái phù hợp với sự trƣởng thành và phát triển của các loại thủy sản để thúc đẩy chúng phát triển qua các giai đoạn của vòng đời. Theo quan điểm của FAO: NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tƣợng sinh vật thủy sinh nhƣ nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh…quá trình này bắt đầu từ khi thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong [ 2, tr 20]. Vì vậy có thể hiểu NTTS một cách tổng quát, đó là một bộ phận sản xuất có tính nông nghiệp sử dụng các nguồn lực để duy trì, bổ sung tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và các ngành khác; bao gồm nuôi trồng thủy sản nƣớc ngọt, nuôi trồng nƣớc lợ, nuôi trồng hải sản. Vai trò của Nuôi trồng thủy sản Thứ nhất, Duy trì, tái tạo các nguồn lợi thuỷ sản.
Các nguồn lợi thủy sản là nguồn lợi tự nhiên với tính chất có hạn , khan hiế m khi khai thác đánh bắ t mô ̣t cách tràn lan không có kế hoa ̣ch thì nguồ n lơ ̣i này la ̣i càng trở nên khan hiế m , thâ ̣m chí mô ̣t số loài gầ n nhƣ tuyê ̣t chủng. Chính vì vậy, để đảm bảo nguồn lợi này đƣợc duy trì và tiếp tục mang lại lợi ích cho con ngƣời thì cần có những kế hoạch khai thác hợp lý , khai thác kết hơ ̣p với viê ̣c bảo vê ̣ , bổ sung tái t ạo một cách thƣờng xuyên thông qua hoạt đô ̣ng đánh bắ t và NTTS là 2 bô ̣ phâ ̣n cấ u thành nên ngành thuỷ sản nhƣng mang 2 sắ c thái hoàn toàn khác nhau , bổ sung lẫn nhau ta ̣o nên sƣ̣ phát triể n chung của toàn ngành. Thứ hai, Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản và thƣơng mại quốc tế thuỷ sản. NTTS là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số ngành nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa mà một số đối tƣợng thuỷ sản nuôi trồng còn là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu.
Thứ ba, Giải quyết việc làm và tăng thu nhập. NTTS là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển. Ở Việt Nam những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001 đến năm 2004, công tác khuyến ngƣ đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, hƣớng dẫn ngƣời nghèo làm ăn. Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình đƣợc đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngƣ dân ven biển.
Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ. Nghề NTTS ở sông Cửu Long đƣợc duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở ven sông. Đến năm 2005 do chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần đƣa số lao động nuôi trồng thuỷ sản là 2. Bên ca ̣nh đó , do hiê ̣u quả của NTTS ca o hơn nhiề u so với các liñ h vƣ̣c nông nghiê ̣p khác , nên cùng với viê ̣c thƣ̣c hiê ̣n chuyể n đổ i kỹ thuâ ̣t sản xuấ t , chuyể n đổ i diê ̣n tích tƣ̀ trồ ng lúa sang NTTS đã ta ̣o ra nguồ n thu nhâ ̣p lớn góp phầ n nâng cao mƣ́c số ng cho ngƣời dân.
Thứ tƣ, Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa. Cùng với mức sống của ngƣời dân dần đƣợc cải thiện , nhu cầu về thực phẩm chất lƣợng cao , giàu protein ngày một tăng thì ngành NTTS ngày càng trở thành nguồ n cung cấ p nguyên liê ̣u quan tro ̣ng cho thị trƣờng nội địa. Ngành NTTS là một trong những ngành tạo ra lƣơng thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tầm vĩ mô, dƣới giác độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành NTTS đã góp phần đảm bảo an ninh lƣơng thực thực phẩm, đáp ứng đƣợc yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn.
Có thể nói Ngành NTTS đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho ngƣời dân. Thứ năm, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiê ̣p. Ngày nay, xu hƣớng chuyể n đổ i diê ̣n tić h trồ ng kém hiệu quả nhƣ trồng lúa ruộng trũng 1 vụ bấp bênh , năng suất thấp , đất trồng cói , làm muối kém hiệu quả và đất cát , đất hoang hoá sang sƣ̉ du ̣ng có hiê ̣u quả hơn cho ngành NTTS. Nguyên nhân của hiện tƣợng này là do giá thuỷ sản trên thị trƣờng thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách.
Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích đƣợc chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm 2003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65. Có thể nói NTTS đã phát triển với tốc độ nhanh, thu đƣợc hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bƣớc góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân. Hơn nƣ̃a, NTTS cũng đã thu hút sƣ̣ tham gia của nhiề u thành phầ n kinh tế nhƣ : Doanh nghiê ̣p nhà nƣớc , doanh nghiê ̣p liên doanh , doanh nghiê ̣p TNHH, doanh nghiê ̣p cổ phầ n.
NTTS phát triể n cũng kéo theo sƣ̣ phát triể n của các ngành Dịch vụ – Công nghiê ̣p. Vì vậy, phát triển NTTS đã góp phần đƣa nề n kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển nhanh và bền vững. Quy hoạch phát triển NTTS cấp huyện 1. Khái niệm và đặc trƣng 1.
Khái niệm * Hoạch định phát triển 13. Hoạch định phát triển là một trong bốn chức năng quan trọng thiết yếu của quy trình quản lý, đồng thời đƣợc coi là một chức năng ƣu tiên hay nền tảng của quan trọng nhất. Hoạch định phát triển là quá trình liên tục, bao gồm những quyết định, lựa chọn về cách sử dụng nguồn lực sẵn có khác nhau, với mục đích đạt đƣợc những mục tiêu cụ thể trong tƣơng lai. Nhƣ vậy Hoạch định phát triển bao gồm quá trình xác định mục tiêu trong tƣơng lai và những phƣơng tiện thích hợp để đạt mục tiêu đó.
Kết quả của Hoạch định là một văn bản hoạch định ra đời, một văn bản đƣợc ghi chép rõ ràng và xác định những hành động cụ thể cần phải thực hiện trong khuôn khổ đối tƣợng thực hiện hoạch định. Theo đó, Hoạch định phát triển kinh tế xã hội là một dạng của hoạch định phát triển, là dạng hoạch định của cấp độ quốc gia (có thể vận dụng cho cả cấp địa phƣơng) ở các dạng trung hạn và dài hạn. Hoạch định phát triển kinh tế xã hội là sự thể hiện ý đồ phát triển trong tƣơng lai của các nhà nƣớc (hoặc địa phƣơng) bằng các mục tiêu kinh tế - xã hội và những giải pháp chính sách phối hợp để thực thi và đạt đƣợc những mục tiêu đặt ra. Hoạch định phát triển kinh tế xã hội là hoạt động can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế nhằm định hƣớng phát triển biến số kinh tế xã hội chủ yếu để đạt mục tiêu đã định trƣớc (trong một khoảng thời gian đã định), nó là công cụ quản lý (điều tiết) vĩ mô nền kinh tế, đƣợc sử dụng hầu hết các quốc gia dù có thể chế kinh tế chính trị xã hội khác nhau.
Các công cụ hoạch định bao gồm: Chiến lƣợc phát triển; Quy hoạch phát triển; Kế hoạch phát triển; Chƣơng trình, hay dự án phát triển. *Quy hoạch phát triển Quy hoạch phát triển là sự cụ thể hóa chiến lƣợc theo góc độ thời gian và không gian lãnh thổ. Quy hoạch có chức năng xác định sơ đồ phân bố sản 14 .