CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm vịnh Theo Điều 10 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, vịnh là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển.
thỏa mãn hai điều kiện: (1) Diện tích của nó ít nhất cũng bằng diện tích một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm; (2) Nếu khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên một vịnh không vượt quá 24 hải lý, thì đường đóng cửa vịnh có thể được vạch giữa hai ngấn nước triều thấp nhất này, và vùng nước ở phía bên trong đường đó được coi là nội thuỷ của quốc gia ven biển đó. Trong trường hợp đường đóng cửa vịnh dài quá 24 hải lý thì quốc gia ven biển được kẻ một đường cơ sở thẳng dài 24 hải lý ở phía trong vịnh, sao cho phía trong của nó có một diện tích nước tối đa. Vịnh là phần đại dương hoặc biển ăn sâu vào dất liền. Biên giới vịnh thường vẽ theo quy ước là đường thẳng nối các mũi cửa vào hay theo một đuờng đẳng sâu nào đó, vì các vịnh bao giờ cung ăn thông với biển hay dại dương qua phần tỏa rộng của mình.
Tùy thuộc nguồn gốc, cấu tạo bờ và hình dáng mà nguời ta gọi một số vịnh không lớn là những phiôt, vũng, lagoon hay liman [9]. Vịnh là vùng biển ăn sâu vào lục địa hay các đảo, có cửa mở rộng ra phía ngoài khơi với chiều rộng đáng kể hoặc là phần biển có đảo che chắn tạo thành một vùng nước khép kín mà trong đó động lực biển thống trị [16]. Khái niệm quy hoạch không gian biển Theo UNESCO viện dẫn từ Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn Anh (2008) quy hoạch không gian biển (Marine Spatial Planning - MSP), là thiết lập phương án sử dụng không gian biển hợp lý hơn và giải quyết các mối tương tác giữa các phương thức sử dụng nhằm cân bằng giữa nhu cầu phát triển với nhu cầu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bảo vệ các hệ sinh thái biển và đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội theo quy hoạch [39]. Theo Ủy ban Châu Âu (European Commission) quy hoạch không gian biển là lập kế hoạch và điều chỉnh các hoạt động sử dụng biển của con người cùng với quá trình bảo vệ các hệ sinh thái biển [50].
Khái niệm “quy hoạch không gian biển” còn mới ở Việt Nam, nhưng ở chừng mực nhất định, nội hàm của quy hoạch này không hoàn toàn mới bởi tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam đã có lịch sử 30 năm trải nghiệm [25]. Khái niệm phát triển bền vững Nhận thức về phát triển bền vững (PTBV) được hình thành từ thế kỷ XV, gắn với các hoạt động bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN năm 1980, PTBV được hiểu đơn giản là: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"; Đến năm 1987, khái niệm PTBV chính thức được đề xuất trong báo cáo “Tương lai chúng ta” theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED, PTBV là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai"; Và khái niệm này đã được khẳng định trong hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro (1992) và Nam Phi năm (2002), các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự PTBV có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21). Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trong đó có cả Việt Nam.
Về bản chất, PTBV trước hết là quá trình phát triển mà trong đó quan hệ không gian giữa ba mảng phúc lợi, kinh tế - xã hội và môi trường luôn được điều chỉnh tối ưu cũng như mối quan hệ theo trục thời gian về nhu cầu và lợi ích giữa các thế hệ được giải quyết hài hòa. PTBV không dễ gì đạt được, thậm chí thay đổi rất nhanh so với điều chỉnh. Vì vậy, PTBV là mục tiêu mong đợi về mặt xã hội, nhưng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại là nhu cầu và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, các ngành kinh tế, vùng lãnh thổ và các địa phương. Tổng quan các công trình nghiên cứu Vịnh Tiên Yên là một trong những khu vực nhiều HST độc đáo, có giá trị đa dạng sinh học cao, đặc biệt là thảm thực vật ngập mặn phát triển tốt với diện tích lớn ở miền Bắc Việt Nam cùng với nguồn thủy sản dồi dào, nhiều loài có giá trị kinh tế và khoa học.
Do vậy, vùng đất này thu hút nhiều nhà khoa học đến tìm hiểu, nghiên cứu ở các lĩnh vực sinh học, sinh thái học, đất ngập nước, địa chất môi trường, nuôi trồng thủy sản… Năm 1996, trong nghiên cứu “Điều tra khảo sát đất ngập nước triều vùng biển ven bờ và các đảo đông bắc Việt Nam” do Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng thực hiện đã kiểm kê, phân loại ĐNN, xác định được giá trị tài nguyên, hiện trạng khai thác sử dụng và các đe dọa ĐNN trong đó có vịnh Tiên Yên từ đó đề xuất những định hướng chiến lược khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên. Năm 1996 – 1997, Sở thủy sản Quảng Ninh đã thực hiện đề tài “Điều tra môi trường chất đáy, sinh vật vùng ven biển Quảng Ninh”. Đến năm 2002, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng đã tiếp tục thực hiện Khảo sát bổ sung tổng hợp điều kiện tự nhiên xã hội, tài nguyên và môi trường vịnh Tiên Yên – Hà Cối nhằm đề xuất hướng sử dụng hợp lý và PTBV. Từ năm 2002 – 2006 dự án SUMA – Bộ thủy sản kết hợp với tỉnh Quảng Ninh thực hiện các dự án Quy hoạch NTTS biển và nước lợ tại các huyện Tiên Yên, Vân Đồn, Hải Hà đến năm 2010 và Xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng bền vững nguồn lợi sá sùng và bông thùa tỉnh Quảng Ninh.
Các nghiên cứu này đã chỉ ra được những loài đặc sản tại các huyện trong khu vực nghiên cứu đồng thời chỉ ra được định hướng quy hoạch hải sản bền vững trên khu vực, đây cũng là những yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng quy hoạch không gian biển khu vực nghiên cứu. Năm 2011, Dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tổng thể và một số vùng trọng điểm tỉnh Quảng Ninh tính đến năm 2020” đã được Khoa Địa lý trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện. Công trình khoa học này hứa hẹn là một công cụ đắc lực hỗ trợ quá trình ra quyết định về phát 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển kinh tế xã hội và chính sách quản lý môi trường phù hợp nhằm đảm bảo sự PTBV không chỉ cho tỉnh Quảng Ninh mà còn cho khu vực vịnh Tiên Yên. Gần đây nhất, năm 2012 trong luận án tiến sĩ của Trần Đăng Quy “Nghiên cứu đặc điểm tiến hóa môi trường phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” với các phương pháp nghiên cứu hiện đại đã đưa ra kết luận môi trường nước tại vịnh chưa bị ô nhiễm, đồng thời tác giả một lần nữa chứng minh được vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và môi trường của HST RNM trên khu vực nghiên cứu.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 1. Cách tiếp cận Quy hoạch không gian biển là hành động quản lý môi trường và quy hoạch sử dụng hợp lý không gian biển hướng tới PTBV vùng biển đảo khu vực vịnh Tiên Yên, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Không gian biển vịnh Tiên Yên gồm toàn bộ vùng biển, đảo, cửa sông. Quy hoạch không gian biển Vịnh Tiên Yên dựa trên các phương pháp tiếp cận: 1.
Tiếp cận hệ sinh thái Vịnh Tiên Yên là nơi có đa dạng sinh học cao, nhiều HST trong đó có những HST nhạy cảm (RNM, cỏ biển), có sức chịu đựng giới hạn nhất định, phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động nhân sinh. Các điều kiện tự nhiên (như đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất, khí hậu, thủy văn, hải văn, thổ nhưỡng, ĐDSH.) vừa là cơ sở, vừa là yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các HST. Bên cạnh đó, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên ven biển khu vực là yếu tố tác động trực tiếp đến các HST. Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá sự biến động ĐNN ven biên vịnh Tiên Yên nhất thiết phải dựa vào cách tiếp cận sinh thái.
Trên cơ sở tiếp cận đó, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST, đảm bảo cân bằng sinh thái, duy trì tốt các chức năng, giá trị của các HST trong vùng vịnh. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tiếp cận tổng hợp Đây là nền tảng của quy hoạch không gian biển quản lý, tiếp cận tổng hợp tạo sự quản lý thống nhất về không gian giữa các vùng tự nhiên của không gian biển, thống nhất giữa các cấp quản lý trung ương, vùng và địa phương, giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển kinh tế biển quy hoạch bảo vệ môi trường, trong đó có bảo tồn tự nhiên. Nói cách khác, tiếp cận tổng hợp tạo sự thống nhất giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch bảo vệ môi trường trước tác động của hành động phát triển kinh tế - xã hội cũng như tác động của các quá trình tự nhiên do biến đổi khí hậu, với quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và vị thế của biển.