ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một quốc gia ven biển với chiều dài bờ biển là 3. Vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam có diện tích trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần vùng lãnh thổ trên đất liền. Trong số 63 tỉnh/thành phố, có 28 tỉnh ven biển với số dân hơn 44,2 triệu ngƣời, chiếm 50,34% tổng dân số cả nƣớc (Tổng cục Thống kê, 2011). Ngoài ra, vùng biển Việt Nam còn thuộc phạm vi ngƣ trƣờng Trung tây Thái Bình Dƣơng, có nguồn lợi hải sản phong phú, đa dạng và thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế biển nói chung và phát triển thủy sản nói riêng.
Hiện nay, ngành Thủy sản đã dần hình thành và phát triển nhƣ một ngành kinh tế - kỹ thuật có đóng góp ngày càng lớn cho đất nƣớc và đã trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đạt tốc độ tăng trƣởng cao trong khối nông, lâm nghiệp và thủy sản. Ngành thủy sản của thị xã Quảng Yên có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của thị xã. Trong đó, nuôi tôm chiếm tỷ trọng lớn trong ngành thủy sản. Theo báo cáo tổng kết năm 2015 của thị xã Quảng Yên 2015, sản lƣợng nuôi trồng thuỷ sản năm tại thị xã Quảng Yên 2015 ƣớc đạt 9.154 tấn, đạt 101,1% so với kế hoạch (Kế hoạch 9.046 tấn) và bằng 104,3% so với cùng kỳ.
Trong đó: sản lƣợng tôm các loại là 2.400 tấn (tôm thẻ chân trắng là 1.002 tấn, tôm sú 998 tấn, tôm rảo 400 tấn), đạt 100% so với kế hoạch và bằng 115,4% so với cùng kỳ năm 2014. Phƣờng Hà An là một trong những phƣờng có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế toàn thị xã từ hoạt động nuôi trồng thủy sản. Cùng với điều kiện tự nhiên, thiên nhiên thích hợp, nghề nuôi tôm tại phƣờng Hà An đƣợc coi là nghề chủ đạo, là nguồn thu nhập chính của ngƣời dân địa phƣơng. Tuy nhiên, số lƣợng đầm lớn nhƣng đƣợc phân bố rải rác khắp vùng, không đƣợc đồng đều và tập trung đã gây ra rất nhiều trở ngại cho việc quản.
Ngoài ra lƣợng nƣớc xả thải từ hoạt động nuôi tôm đã ảnh hƣởng rất lớn tới môi trƣờng xung quanh và đời sống sinh hoạt của ngƣời dân. Nhằm tìm ra giải pháp bảo vệ môi trƣờng và phát triển kinh tế tôi đã thực hiện đề tài: “Quy hoạch hệ thống thu gom trạm xử lý 1 nước thải từ hoạt động nuôi tôm tại phường Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề chung về quy hoạch môi trƣờng 1.
Một số khái niệm về quy hoạch môi trƣờng Thuật ngữ quy hoạch môi trƣờng (QHMT) ra đời vào những năm 1970 và phổ biến vào năm 1990 của thế kỷ XX. Khoa học nghiên cứu về quy hoạch môi trƣờng vẫn là một ngành khá mới không những ở việt nam mà còn trên toàn thế giới. Vì vậy khái niệm QHMT đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau và có sự thay đổi theo thời gian., quy hoạch môi trƣờng là sự cố gắng làm cân bằng và hài hòa các hoạt dộng phát triển à còn ngƣời vì quyền lơi của mình mà áp đặt một cách quá mức lên môi trƣờng tự nhiên. Theo Nguyễn Đức Khiển (2002), QHMT là việc xác lập các mục tiêu môi trƣờng mong muốn; đề xuất và lựa chọn phƣơng án, giải pháp để bảo vệ, cải tiến và phát triển môi trƣờng.
Những môi trƣờng thành phần hay tài nguyên của môi trƣờng nhằm tăng cƣờng một cách tốt nhất nặng lực, chất lƣợng của chúng theo mục tiêu đề ra. Theo Vũ Quyết Thắng (2003), QHMT là một phƣơng pháp thích hợp để tiến tới tƣơng lai theo một phƣơng hƣớng, mục tiêu do ta vạch ra; là một công cụ có tính chiến lƣợc trong phát triển. Quy hoạch có thể là tất cả các việc hoặc khả năng kiểm soát tƣơng lai bằng các hoạt động hiện tại, sự ứng dụng các kiến thức về nhân quả; một hình thức của quyền lực chính trị và một hành động chânthực. Kỹ thuật cơ bản của nó là các báo cáo viết kèm theo là các dự báo thống kê, các trình bày toán học, các đánh giá định lƣợng và các sơ đồ (bản đồ) mô tả những mối liên hệ giữa các phần tử khác nhau của bản quy hoạch.
Nhƣ QHMT đƣợc hiểu là quá trình nhằm đạt đƣợc cho sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng. Từ đó, đạt đƣợc mục tiêu phát triển bền vững. Mục tiêu của quy hoạch môi trƣờng Quy hoạch môi trƣờng đƣợc thực hiên nhăm đạt đƣợc những mục tiêu sau: Một là cụ thể hóa các chiến lƣợc, chính sách về bảo vệ môi trƣờng là cơ sở để xây dựng các chƣơng trình, kế hoạch hành động vì môi trƣờng nhằm thay đổi một môi trƣờng xanh sạch đẹp Hai là điều hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng là đảm bảo chắc chắn sao cho sự phát triển kinh tế xa hội không vƣợt mức cho phép của môi trƣờng tự nhiên và đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội phù hợp tốt nhất với hệ thống tự nhiên. Nguyên tắc của quy hoạch môi trƣờng Nguyễn Thế Thôn (2004), đã đƣa ra 6 nguyên tắc của quy hoạch môi trƣờng nhƣ sau: 1.
Xác định rõ các mục tiêu, đối tƣợng cho quy hoạch môi trƣờng. Quy hoạch môi trƣờng cần đƣợc tiến hành đồng thời với quy oạch kinh tế - xã hội. Xác định các quy mô về thời gian và không gian quy hoạch. Quy hoạch môi trƣờng đƣợc thực hiện trên quan điểm hệ thống.
Quy hoạch môi trƣờng sử dụng thông tin và các luận cứ khoa học về môi trƣờng thông qua đánh giá môi trƣờng. Quy hoạch môi trƣờng phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Nội dung thực hiện của quy hoạch Theo Vũ Quyết Thắng (2003), quy hoạch môi trƣờng đƣợc thực theo các bƣớc sau: 1.1Đánh giá hiện trạng môi trường: - Thông tin về đặc điểm kinh tế - xã hội Thông tin về địa điểm nơi nghiên cứu, đặc điểm kinh tế xã hội, vị trí địa lý và các thông tin liên quan đến đề tài khóa luận. 1) Dân số: Dân số là một trong các dữ liệu rất quan trọng cần chú ý đến 4 trong các quy hoạch phát triển và quy hoạch môi trƣờng.Những hiểu biết về tốc độ sinh trƣởng, tỉ lệ nam nữ, cấu trúc tuổi, nghề nghiệp và nhân lực là cần thiết.
2) Sử dụng đất: Đặc điểm của vấn đề sử dụng đất ở địa phƣơng; Số lƣợng, chất lƣợng và sự phân bố theo không gian các loại hình sử dụng chính: (a) Nông, lâm, ngƣ nghiệp; (b) công nghiệp, đô thị, (c) khu dân cƣ nông thôn, (d) đất chuyên dùng, (e) đất chƣa sử dụng. 3) Các hoạt động kinh tế hiện tại: Các hoạt động khai thác hoặc sử dụng trực tiếp TNTN và sản xuất không trực tiếp sử dụng TNTN trong các ngành công nghiệp, khai khoáng, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, tình hình giáo dục, y tế, văn hoá; 4) Quy hoạch & kế hoạch phát triển KTXH (tổng thể, ngành), đặc biệt là các quy hoạch xây dựng và sử dụng đất. 5) Cơ sở hạ tầng: Các hệ thống giao thông, năng lƣợng; cấp, thoát nƣớc, quản lý chất thải rắn đô thị; cung cấp nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn. Các công trình lịch sử, văn hoá, khảo cổ; 6) Các vấn đề về thể chế: Luật pháp hiện hành liên quan; Hệ thống quản lý nhà nƣớc về BVMT; các chính sách khuyến khích về kinh tế, chính sách thuế; chính sách giá; chiến lƣợc đầu tƣ; quản lý đất đai; quy hoạch sử dụng đất; kế hoạch và đầu tƣ cho kiểm soát ô nhiễm; y tế cộng đồng, vệ sinh môI trƣờng.
- Thông tin về bối cảnh phát triển khu vực - Cơ quan điều hành hoạt động phát triển & các nhóm chia sẻ quyền lợi 1. Điều tra môi trường - Thu thập thông tin, dƣ liệu thứ cấp Thông tin thứ cấp là các loại thông tin, dữ liệu môi trƣờng đã đƣợc nghiên cứu, điều tra và tƣờng trình trong các báo cáo đâu đó. Chúng ta có thể thu thập từ các cơ quan chức năng về môi trƣờng, cơ quan quản lý đất đai và các cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với khu vực; các tổ chức thực thi, các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học, các tổ chức phi chính phủ; các báo cáo trong các cuộc hội thảo 5 khoa học. Nguồn tƣ liệu thứ cấp còn là các ảnh vệ tinh, ảnh máy bay và bản đồ các loại.1: Bảng điều tra môi trƣờng STT Phƣơng pháp thu thập Nguồn cung cấp Thông tin 1 Cập nhật và chọn lọc các Từ các loại sách, báo cáo, Cơ sở lý luận và thực thông tin có liên quan luận án, luận văn có liên tiễn của đề tài quan có trên các webside và thƣ viện ….
2 Tìm tòi và thu thập từ các Báo cáo tình hình kinh tế Số liệu về đặc điểm địa báo cáo cuối năm tại cơ - xã hội qua các năm của bàn nghiên cứu quan địa phƣơng. cơ quan quản lý - Tƣ liệu viễn thám Viễn thám đƣợc sử dụng để phát hiện, lập bản đồ và cập nhật những thông tin về tài nguyên đất đai. Viễn thám là sự tập hợp và ghi nhận thông tin bởi một bộ phận cảm ứng trên vệ tinh bay theo qũy đạo trong vũ trụ mà không cần phải có liên hệ trực tiếp với đối tƣợng hay khu vực cần nghiên cứu. Chụp ảnh thám không, một hình thức của viễn thám đã đƣợc dùng để lập bản đồ tài nguyên đất trong nhiều thập kỷ.
Tuy nhiên do giá thành sản xuất cao nên ảnh thám không có giá trị sử dụng về thời gian thấp và thƣờng bị lạc hậu. Các ảnh thám không ở độ cao thấp đƣợc dùng để ƣớc tính chiều cao, thể tích của cây và sinh khối. Do ảnh thám không có thể chồng ghép nên nó cung cấp bức tranh không gian ba chiều. Năm 1973, vệ tinh viễn thám (SRS) đã đƣợc dùng phổ biến để cung cấp thông tin về tài nguyên đất đai.
Về tinh LANDSAT của Hoa Kỳ phóng vào năm 1973 cung cấp 4 dải dữ liệu MSS có độ phân giải mặt đất và không gian là 80m. Từ đó đến nay, dữ liệu SRS đã đƣợc nâng cấp về độ phân giải không gian và quang phổ. - Điều tra khảo sát thực địa Công việc điều tra nghiên cứu thực địa nhằm cập nhật, bổ xung các thông tin, tƣ liệu; chính xác hóa.