phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2. Mô hình ứng dụng, phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Các kết quả nghiên cứu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về quy hoạchcảnh quan thích ứng biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu ảnh hƣởng ngày càng sâu rộng đến mọi lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội, thu hút sự quan tâm của nhiều cấp chính quyền, tổ chức và ngƣời dân.
Các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên đã và đang làm gia tăng ảnh hƣởng tiêu cực đến chức năng sinh thái. Từ thực tế đó đòi hỏi phải có các nghiên cứu về quy hoạch cảnh quan nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực theo hƣớng bền vững sử dụng hiệu quả và hợp lý các nguồn tài nguyên. Xu thế nghiên cứu này đang dần trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới. Sự bùng nổ của các siêu đô thị tại Châu Á trong các thập kỷ sau chiến tranh kéo theo các vấn đề môi trƣờng nghiêm trọng bao gồm ô nhiễm nƣớc, không khí và thiếu các cơ sở hạ tầng đô thị phù hợp.
Các tiếp cận quy hoạch cảnh quan đô thị từ các quốc gia phƣơng Tây nhƣ thêm các vành đai xanh và phân vùng đã đƣợc áp dụng cho các thành phố để khuyến khích tăng trƣởng đô thị có kiểm soát.Việc quy hoạch có sự tôn trọng cảnh quan địa phƣơng trong quá khứ có thể giúp tạo ra sự ổn định mới cho môi trƣờng đô thị tại châu Á trong thế kỷ 21 (Yokohari và nnk, 2000). Tại Trung Quốc trong những năm gần đây, chính phủ nƣớc này đã kêu gọi quy hoạch môi trƣờng theo nhiều mức khác nhau để lồng ghép vấn đề môi trƣờng vào sự phát triển kinh tế. Trong quá trình lập quy hoạch, nghiên cứu sinh thái cảnh quan và phân vùng chức năng đƣợc coi là bƣớc chính.Từ kết quả thực tiễn cho thấy các phƣơng pháp phân vùng chức năng sinh thái nên đƣợc áp dụng theo các nguyên tắc quản lý thích ứng, dựa vào tài nguyên và dựa vào cộng đồng để có thể lồng ghép khoa học vào quá trình ra quyết định, tránh quan điểm chủ quan của các nhà lập kế hoạch và các xung đột trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên (Fang và nnk, 2008).Zhang và nnk (2007) đã sử dụng phƣơng pháp phân tích định tính và định lƣợng trênhệ thông tin địa lý (GIS) để xây dựng các phân vùng chức năng sinh thái cho khu vực Quinhuyndao. Cách tiếp cận này cho phép hình thành cơ sở dữ liệu về phân bố sinh thái theo các mạng lƣới địa lý.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cho thấy đây làphƣơng pháp hữu ích phục vụ công tác phân vùng sinh thái trong tƣơng lai. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12, chính phủ Trung Quốc đã nêu ra phƣơng pháp quy hoạch không gian mới tập trung vào vùng định hƣớng chức năng chính. Trƣớc đây, Trung Quốc phát triển tập trung chủ yếu vào việc theo đuổi tăng trƣởng kinh tế, ít quan tâm đến các vấn đề phát triển xã hội và môi trƣờng dẫn đến phát triển không bền vững. Với cách tiếp cận này, mỗi khu vực sẽ đƣợc phát triển dựa trên chức năng độc đáo riêng nhờ việc xác định đƣợc đặc tính riêng, điều kiện và yêu cầu phù hợp (Fan và nnk, 2012).
Phƣơng pháp quy hoạch tiếp cận theo hƣớng quan tâm đến quy hoạch sinh thái cảnh quan đƣợc áp dụng tại một số khu vực trên thế giới. Chẳng hạn, tại Autralia,năm 2012, chính phủ nƣớc này đã công bố khung quy hoạch cảnh quan khu vực Đông Nam Queensland. Đây là một tập hợp danh sách các tài liệu nguồn và tham khảo giải thích về quy hoạch cảnh quan tại Đông Nam Queensland.Tại Brazil, Haddad (2015) đã tiến hành nghiên cứu khung quy hoạch môi trƣờng đô thị trong bối cảnh Brazil phải đối mặt với nhiều thách thức về môi trƣờng do tốc độ phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Khung quy hoạch đƣợc xây dựng dựa trên khái niệm khả năng đáp ứng và hệ thông tin địa lýGIS.
Việc kết hợp xây dựng bản đồ và chiến lƣợc quy hoạch đô thị nhằm đề cao sự tham gia của cộng đồng và hƣớng đến nhóm dân cƣ có thu nhập thấp. Ngoài ra, phƣơng pháp phân vùng chức năng sinh thái làm cơ sở cho quy hoạch đô thị đƣợc tiến hành nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác khu vực châu Mỹ Latinh nhƣ Peru, Venezuela, Ecuador,.Ngoài việc dựa trên đặc tính môi trƣờng tự nhiên, phân vùng sinh thái cảnh quan còn gắn với đặc điểm kinh tế xã hội và mục tiêu chung của vùng và quốc gia. Các công trình nghiên cứu ứng dụng mô hình Markov - CA dự tính biến đổi sử dụng đất trong tương lai Quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng làm suy giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân và sinh thái bền vững của khu vực.Dự đoán về phạm vi mở rộng của đô thị trong tƣơng lai rất hữu ích cho quá trình quy hoạch đô thị và quản lý môi trƣờng của các thành phố phát triển nhanh. Kumar và nnk (2015) đã nhận thấy việc sử dụng GIS mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian và năng lƣợng.
Trong nghiên cứu tại Vijayawada, nhóm nghiên cứu đã sử dụng ảnh vệ tinh Landsat các năm 1988, 2008 và 2014 để xây dựng bản đồ lớp phủ mặt đất. Các kết quả này đƣợc đƣa vào phần mềm IDRISI Selva, sử dụng chuỗi phân tích Markov - CA để đƣa ra kết quả dự đoán lớp phủ mặt đất trong tƣơng lai. Kết quả kiểm chứng đạt độ chính xác cao trên 80%. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự thành công của kỹ thuật này đã giúp các nhà khoa học có những kết quả nghiên cứu tƣơng tự tại nhiều khu vực trên thế giới.
Halmy và nnk (2015) đã nghiên cứu các thay đổi về sử dụng đất/lớp phủ đất (LULCC) ở một phần của sa mạc phía tây bắc của Ai Cập.Kết quả dự báo LULCC cho năm 2023 cho thấy quá trình đô thị hoá có khả năng mở rộng ở vùng trồng trọt phía tây và phía bắc, sự ga tăng khai thác tại các mỏ đá và sự phát triển của các trung tâm đô thị. Các kết quả có thể giúp các hoạt động quản lý hƣớng đến việc bảo vệ động vật hoang dã trong khu vực. Nghiên cứu này cũng có thể đƣợc sử dụng làm định hƣớng cho các nghiên cứu khác nhằm dự báo những thay đổi về sử dụng đất trong các khu vực khô cằn. Guan và nnk (2011)đã phân tích sự thay đổi theo thời gian và sự phân bố không gian của việc sử dụng đất đƣợc nhấn mạnh bởi các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội ở Saga, Nhật Bản.Michael Iacono và nnk (2012) ƣớc tính sự thay đổi sử dụng đất khu vực đô thị cho vùng Minneapolis- St.
Paul, Hoa Kỳ. Ngoài ra một số nghiên cứu kiểm chứng mô hình Markov - CA mô phỏng thay đổi lớp phủ và hiện trạng sử dụng đất tại lƣu vực sông Langat, Malaysia (Hadi và nnk, 2012), hay tại khu vực thoát nƣớc lƣu vực sông Saddle Creek, Florida (Subedivà nnk, 2013). Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 1. Các nghiên cứu phân vùng ứng dụng và quy hoạch cảnh quan Ở Việt Nam, các nghiên cứu phân vùng phục vụ cho các mục đích thực tiễn (còn gọi là phân vùng ứng dụng) và nghiên cứu cảnh quan học, sinh thái cảnh quan đã đƣợc quan tâm ngay từ những năm 1960.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, xuất phát từ những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế xã hội kết hợp với yêu cầu, mục tiêu chiến lƣợc phát triển của đất nƣớc nên trong mỗi giai đoạnnội dung nghiên cứu và phƣơng pháp tiếp cận khác nhau. Trƣớc năm 1980, các công trình chủ yếu phát hiện sự phân hóa lãnh thổ theo hƣớng phân vùng địa lý tự nhiên. Có thể kể đến công trình nghiên cứu “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” năm 1976 của Vũ Tự Lập, nghiên cứu đã tìm ra những đặc điểm, quy luật phân hoá của địa lý tự nhiên Việt Nam. Từ sau 1980 cho đến nay, có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu cảnh quan về cả những vấn đề lý luận và vận dụng vào thực tiễn các vùng, miền lãnh thổ Việt Nam.
Nhiều nhà khoa học đã ứng dụng tiếp cận nghiên cứu phân vùng và đánh giá cảnh quan cho các lĩnh vực khác nhau, nhƣ: Trong lĩnh vực nông nghiệp, đề tài “Phân 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” do Cao Liêm(1990) chủ trìđã phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới điều kiện sinh thái của vùng đồng bằng sông Hồng và phân chia khu vực ra 8 vùng, 13 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp đồng thời mô tả đặc điểm, định hƣớng sử dụng cho từng vùng sinh thái chính ở đồng bằng sông Hồng.Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, Lê Huy Bá (2010) đã tiến hành nghiên cứu “Phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản tám tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu đã chỉ rađể sự cần thiết phải phân vùng sinh thái tự nhiên trong quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản, nhằm tiến đến phát triển nghề nuôi thuỷ sản ở các vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long một cách bền vững. Cùng với việc kết hợp phƣơng pháp GIS, ảnh vệ tinhvà phƣơng pháp nghiên cứu điều tra các tiêu chí: địa hình, địa mạo, đất đai, chế độ ngập nƣớc, độ mặn, …nghiên cứu đã xây dựngbản đồ phân vùng sinh thái cho 8 tỉnh trong khu vực ở các tỷ lệ 1/250 000; 1/100 000,…Theo hƣớng ứng dụng công nghệ viễn thám - GIS cho nghiên cứu phân vùng cảnh quan có đề tài “Nghiên cứu phân vùng cảnh quan lãnh thổ Việt – Lào với sự hỗ trợ của Công nghệ viễn thám và Hệ thông tin địa lý” (Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2006). Các nghiên cứu ứng dụng mô hình Markov-CA Trong nghiên cứu phục vụ định hƣớng quy hoạch lãnh thổ đã có nhiều công trình ứng dụng mô hình Markov-CA đem lại kết quả chính xác cao.
Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Luận án “Nghiên cứu biến động sử dụng đất trong mối quan hệ với một số yếu tố nhân khẩu học thuộc khu vực huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” (Lê Thị Thu Hà, 2016) đã ứng dụng viễn thám và mô hình Markov-CAdự báo biến động đất xây dựng và đất nuôi trồng thủy sản huyện Giao Thủy đến năm 2029.