Chương 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG 1. Vị trí địa lý Thừa Thiên Huế là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền trung, có toạ độ địa lý từ 16-16,8o vĩ độ bắc và từ 107,8-108,2o kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà nẵng, phía tây giáp nước CHDCND Lào, phía đông là biển Đông. Tổng diện tích đất tự nhiên là 5009,2km2.
Vị trí tỉnh Thừa Thiên Huế và vị trí lưu vực sông Hương Sông Hương là sông lớn nhất Tỉnh Thừa Thiên Huế, bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở độ cao 1000m, nằm trong giới hạn toạ độ giữa 16o00’ và 16o45’ vĩ tuyến Bắc và 107o00’ và 109o15’ kinh tuyến Đông. Lưu vực sông 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hương giáp với dãy Trường Sơn ở phía tây và với dãy Bạch Mã ở phía Bắc, thành phố Đà Nẵng ở phía nam và Biển Đông ở phía Đông. Hệ thống sông Hương gồm 3 nhánh chính là Sông Tả Trạch, sông Hữu Trạch và Sông Bồ. Hai nhánh Tả Trạch và Hữu Trạch gặp nhau ở ngã ba Tuần hình thành dòng chảy chính Sông Hương.
Sông Hương chảy qua thành phố Huế và gặp sông Bồ tại ngã ba Sình, cách TP Huế khoảng 8km về phía bắc, sau đó đổ vào phá Tam Giang, đầm Cầu Hai và ra biển Đông qua Cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Diện tích toàn lưu vực là 4768km2, vùng đồi núi chiếm trên 80% diện tích lưu vực, vùng cồn cát ven biển khoảng 5%, phần còn lại là đất có khả năng canh tác khoảng 37. Đặc điểm địa hình Đặc điểm nổi bật của địa hình Thừa Thiên Huế là không gian hẹp nhưng tồn tại hầu hết các kiểu địa hình chính của nước ta: núi cao - núi trung bình - núi thấp - gò đồi - đồng bằng, các cồn cát và đầp phá ven biển. Về tổng quan có thể chia địa hình Thừa Thiên Huế ra làm hai miền: đồi núi và đồng bằng, không có vùng trung du chuyển tiếp.
- Miền núi: thuộc vùng núi Trường Sơn giữa biên giới Việt Nam - Lào, có độ cao từ trung bình đến cao. Phía Tây Bắc là vùng núi Động Ngài (1774m) - ranh giới Quảng Trị - Thừa Thiên Huế; Phía Nam, có đỉnh Bạch Mã cao 1440 m kết thúc là dãy núi Hải Vân, đâm ngang sát ra tận bờ biển. Nhìn chung, đây là miền núi có sườn rất dốc, quá trình xâm thực và chia cắt mạnh, địa hình hiểm trở, tạo nên một vòng cung kín đón mưa ở phía Bắc, Tây, Nam và dồn nước về dải đồng bằng hẹp ở phía Đông. Các đồi trong khu vực có sườn dốc thoải, bị bào mòn mạnh, phân bố hẹp và rất phân tán trên các vùng đồi trước núi (như khu vực đồi ở Bạch Thạc - Phú Lộc), hoặc ép sát vào vùng đồng bằng (vùng đồi thoải khu vực lăng Tự Đức, Khải Định.
Gò đồi của Thừa Thiên Huế rất hẹp và không rõ ràng, tạo nên một vùng truyền lũ rất ngắn; 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Địa hình vùng nghiên cứu (tỉnh Thừa Thiên Huế) - Miền đồng bằng: Thừa Thiên Huế có vùng đồng bằng hẹp, bề ngang rộng không quá 20km. Đồng bằng sông Hương có địa hình không bằng phẳng gò đồi thấp xen kẽ các vùng trũng. Từ Bắc đến Nam đều có nhiều vùng núi trung bình - cao áp sát đồng bằng, như vùng đồi núi Động Ngang (268m) áp sát vùng đồng bằng thấp Quảng Điền và thành phố Huế, vùng núi Động Mang Chan (856m) vùng núi Động Truồi (1154m) áp sát vùng Hương Thuỷ, Phú Lộc.
Các ô trũng đất trồng có diện tích 7173ha, thấp hơn mực nước biển ngay trên bề mặt đồng bằng lưu vực sông Hương. Đây là vùng có nhiều bàu, trằm nhất trong cả nước với 78 cái trằm có tên và không tên, 11 đầm, 4 bàu và 1 phá; Phía Đông đồng bằng sông Hương là Hệ đầm phá Tam Giang- Cầu Hai, vùng cửa sông bao gồm 1 phá và 4 đầm nối tiếp kéo dài 68km với diện 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tích 216km2 nơi rộng nhất 10km, nơi hẹp nhất 0,5km, sâu 1,5~2,0m tổng dung tích V=300 triệu m3. Phía đông giáp biển tồn tại một dải cồn cát cao trung bình 5 - 15 m kéo dài suốt từ Bắc (vùng Thâm Khê - Thanh Hương) tới Nam (vùng Mỹ Lợi - Mỹ Á) làm giảm thiểu tốc độ thoát lũ ra biến. Các vùng đồng bằng Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ trở thành các vùng ngập nước sâu trong mưa lũ.
Toàn vùng đồng bằng Thừa Thiên Huế có 2 cửa biển chính nhưng thường xuyên ứ nước, ở PTG có cửa Thuận An và đầm Cầu Hai có cửa Tư Hiền. Ngoài đặc điểm địa hình tự nhiên, trên bề mặt địa hình của Thừa Thiên Huế còn có đường là QL1A và đường sắt Bắc Nam chạy song song với bờ biển vuông góc với hướng dòng chảy và hệ thống đê ngăn mặn phía bờ Tây đầm phá. Chính vì vậy, vùng đồng bằng Thừa Thiên Huế có tốc độ nhận và dâng lũ rất nhanh, một số vùng đồng bằng hẹp (như vùng Cổ Bi, Văn Xá, Thạch Hà, Mỗ Bảo, Vi Gia) trực tiếp bị các dạng hình lũ miền núi (lũ bùn đá, lũ quét. Đặc điểm địa hình thái Đặc điểm địa hình thái Thừa Thiên Huế là sự chuyển bậc nhanh chóng từ vùng núi xuống vùng đồng bằng ven biển.
- Miền núi tập trung ở vùng phía Tây, chiếm phần lớn diện tích của lãnh thổ và thuộc vào loại núi cao trung bình 1225 - 1774m. Các đỉnh cao có độ cao 1225, 1403, 1138m nằm trên đường chia nước chính (thuộc dãy Trường Sơn) đồng thời là đường biên giới Việt - Lào; Trong khi đó, các vùng núi Động Ngài (1774m) ranh giới Quảng Trị - Thừa Thiên Huế ở phía Bắc, vùng núi Mang 1708 m, Hải Vân 1517 m, ở phía Nam đều cao trên 1500m, tạo nên 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các vùng sườn cao, dốc đứng hứng mưa lớn của các hướng mưa lớn của các hướng gió mùa Đông Bắc, Đông Nam rồi đổ nhanh nước về các đồng bằng, khiến cho Thừa Thiên Huế trở thành một khu vực phân ranh khí hậu theo chiều Bắc - Nam và chịu tác động của các nhiễu động thời tiết gió mùa đặc sắc nhất Việt Nam; - Địa hình núi chuyển bậc nhanh và khá đột ngột về phía Đông, xuống dải đồng bằng hẹp ven biển thông qua một dải đồi - núi thấp rất phân tán có độ cao trung bình 200 - 300m. Diện tích núi và đồi chiếm đến trên 80 % diện tích toàn tỉnh, còn dải đồng bằng ven biển thường là dải đồng bằng hạ lưu của các sông ngắn, nhìn chung rất hẹp (thường có bề ngang không quá 20km) lại bị các dải cát cao (đê cát) ven biển chắn phía Đông. Những nét đặc thù địa hình nêu trên có ảnh hưởng rất lớn đến chế độ dòng chảy của các lưu vực sông trong Tỉnh, đặc biệt nó có tác động trực tiếp đến sự vận động của dòng chảy lũ.
Tính không cân đối của sự phân bố và qui mô các miền và kiểu địa hình thái trong đó miền núi chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều lần miền đồng bằng của Thừa Thiên Huế là rất rõ rệt. Hình thái này qui định sự biến đổi gradient địa hình và dòng chảy, diện tích hứng nước, chiều dài chuyển tải nước. Hình dạng và kích thước lưu vực là những chỉ số có thể định lượng trong phân tích lưu vực cho phép đánh giá mức truyền nước nhanh hay chậm của lưu vực. Lưu vực sông Hương có sự kết hợp của yếu tố không cân đối với yếu tố chiều rộng lớn hơn chiều dài lưu vực, tạo nên một áp lực vô cùng lớn đối với hạ du khi có lũ: lũ nhanh, cường độ lũ lớn.
Môi trường tự nhiên Lưu vực Sông Hương nằm ở miền trung có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7. Khí hậu chủ yếu bị ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió Lào nhẹ. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lượng mưa trong lưu vực tương đối cao, và có xu hướng to tăng lên theo độ cao địa hình. Lượng mưa trung bình trên toàn lưu vực hàng năm 2868, và ở vùng núi cao Nam Đông là 3550mm.
Lượng mưa tập trung trong mùa mưa khoảng 70-80% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao nhất khoảng 100- 300mm. Trong một số ngày đặc biệt, lượng mưa đạt tới 758,1mm (A Lưới), 977,6mm (Thành phố Huế). Lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 20-30% tổng lượng mưa cả năm.
Thiên tai: Hội tụ nhiệt đới: Sự nhiễu động đặc biệt của gió mùa mùa hạ thể hiện sự hội tụ giữa tấn phong Bắc bán cầu. Khi gió mùa mùa hạ không khí giữa hai sườn hội tụ là không khí nóng ẩm liên tục bốc lên cao gây ra những vùng mây rộng lớn. Những vùng mây này là nguyên nhân gây nên mưa lớn tập trung, dạng thời tiết này thường gặp vào tháng IX, X. Hàng năm đôi khi thường xảy ra vào tháng IV, V.
Như năm 1985 gây mưa lũ tiểu mãn rất lớn. Gió Tây khô nóng: thường xuất hiện vào hạ tuần tháng II và kết thúc vào trước mùa mưa. Đặc trưng là nhiệt độ cao, độ ẩm thấp gây ra những đợt nắng nóng kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Trung bình ở đồng bằng Huế một năm có từ 35- 55 ngày gặp gió Tây khô nóng.
Đôi khi kéo dài tới 30 ngày gây nên tình trạng khô hạn như đợt gió Tây năm 1993, độ chênh lệch nhiệt độ (max, min) trong ngày tới 15oC, dao động giữa độ ẩm thấp nhất và trung bình trong ngày từ 45-66% (tại Huế), và 45-72% (tại Nam Đông). Tình hình khí tượng khí hậu Thừa Thiên - Huế biến động rất phức tạp, có đủ dạng thời tiết hoạt động trên địa bàn này nhưng nguy hiểm và gây thiệt hại nhiều nhất tới hoạt động kinh tế xã hội trong vùng là mưa lớn và khô hạn. Lũ lụt: chế độ lũ trên sông Hương diễn biến rất phức tạp do đặc điểm sông ngắn, không có vùng trung du rõ rệt nên lũ tập trung nhanh, do chịu ảnh 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hưởng của thuỷ triều nên hàng năm gây thiệt hại rất nghiêm trọng ở vùng hạ lưu. - Lũ sớm thường là lũ nhỏ, một đỉnh, thời gian lũ ngắn 1- 3 ngày, lũ này thường xảy ra vào tháng 7 và 8, cũng ít khi xảy ra.
- Lũ muộn: có đặc điểm là lũ nhỏ, cường xuất nhỏ, thời gian xuất hiện từ cuối tháng 11 đến tháng 1. Nhưng lũ này nguy hiểm hơn lũ sớm là khi vừa ra khỏi lũ chính vụ, mực nước trên sông và trong đồng còn cao.