Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cảnh quan - cơ sở không gian cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu Chương 3: Đánh giá hiện trạng, diễn biến môi trường và định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan 1. Các nghiên cứu về quy hoạch môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19 đã có quan niệm QHMT rộng rãi trong công chúng. Lý thuyết về QHBVMT được phát triển liên tục từ nhà xã hội học người Pháp – Le Play (1877) thừa nhận phải tích hợp “con người- hoạt động- chỗ ở”, đây là ý tưởng đầu tiên nêu lên vấn đề lồng ghép công tác quy hoạch kinh tế với môi trường.
Vào đầu thế kỷ 20, đến nhà sinh vật học người Scotlen, Sir Patrick Geddes đã nhận thấy sự hình thành song song của “hệ sinh thái – chức năng – sinh vật” (1938) và sau đó là người học trò của ông, Lewis Munford người Mỹ đã mở rộng sự phân tích sinh thái học nhân văn nông thôn áp dụng cho đô thị. Sau này là Ian Harg, nhà quy hoạch cảnh quan và là tác giả của cuốn sách “Thiết kế thiên nhiên (Design with nature)” (1939,1969) đã áp dụng các nguyên tắc bảo tồn thiên nhiên – cảnh quan vào một vài ứng dụng quy hoạch cụ thể. QHBVMT thực sự được quan tâm từ sau khi xuất hiện phong trào môi trường ở Mỹ vào những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan tâm một cách ngiêm túc tới các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển. Đặc biệt, sau khi Bộ luật về môi trường của Mỹ ra đời (NEFA-1969) cũng như các bộ luật về nước sạch, luật về không khí sạch, luật về quản lý vùng ven biển… vào thời điểm này, các thông tin về ô nhiễm môi trường đưa ra ngày càng nhiều, là chủ đề quan tâm lớn trên các bàn hội nghị.
Sự ra đời đạo luật môi trường Mỹ (NEA) cùng với các công cụ quản lý của nó như đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã thổi một luồng gió vào quy hoạch sử dụng đất đai. Ngoài những mục tiêu thông thường khi quy hoạch sử dụng đất, nó còn xử lý những vấn đề khác như chống ô nhiễm môi trường, khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên… Từ thập niên 70 của thế kỉ XX trở đi cũng là thơi kỳ bùng nổ các khái niệm quy hoạch bảo vệ môi trường với nhiều cách hiểu khác nhau. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Quan niệm QHMT đồng nhất với quy hoạch ngành ví dụ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xử lý chất thải, quy hoạch đô thị. Điều này thể hiện rõ trong lý luận của các nhà khoa học châu Âu.
Năm 1984, Badwin chỉ ra rằng QHMT là “việc khởi thảo và điều hành các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu thập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp”. Ortolano (1984) quan niệm “QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn dư và đánh giá tác động môi trường”. Theo Toner, QHMT là “sự ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất”. Theo Robert Everritt và Kimberly Pawley (2001) thì ở châu Âu, thuật ngữ QHMT thường áp dụng cho quá trình quy hoạch sử dụng đất của khu vực hay địa phương.
Nurit Alfasi (2006) cho rằng Hệ thống quy hoạch của Israel, giống như nhiều hệ thống phương Tây khác, là một hệ thống quy định, có nghĩa là các kế hoạch sử dụng đất theo luật định nhằm thiết lập chính sách quy hoạch dài hạn và xác định quyền quy hoạch. Viện Quy hoạch Hoàng gia Anh (RTPI) cho rằng quy hoạch là một hoạt động khoa học do các nhà quy hoạch thực hiện, cơ bản là một quá trình hỗ trợ cộng đồng trong việc ra quyết định về sử dụng đất và các hoạt động kinh tế xã hội có liên quan để bảo tồn, phát triển bền vững, quản lý đất đai và các nguồn lực của nó. Hiện nay, quan điểm coi QHMT chỉ dựa trên quy hoạch đất đai chỉ chiếm ưu thế ở châu Âu, do khái niệm quy hoạch này đưa ra chủ yếu chỉ giải quyết được vấn đề suy thoái đất, trong khi đó các quốc gia châu Á và Bắc Mỹ coi QHMT là một quy hoạch mang tính tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề môi trường. * Quan niệm QHMT là cầu nối quy hoạch không gian và việc lập chính sách môi trƣờng.
Các lý luận theo quan niệm này chủ yếu cho rằng quy hoạch là một bước để thực hiện quản lý môi trường tổng hợp, quản lý hệ sinh thái và quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên nhằm giải quyết các vấn đề môi trường. Quan niệm này thể hiện rõ trong các quan điểm các nhà khoa học Hà Lan và Đức, các nhà khoa học theo quan niệm này thường sử dụng khái niệm lập kế hoạch môi trường (environmental planning) hoặc thiết kế cơ sở hạ tầng (infrastructure 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Alan Gipin định nghĩa “quy hoạch môi trường là sự xác định các mục tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên và đề ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” (1996). Theo Chapin & Kaiser (Đức) (1985), QHMT là „„một kế hoạch toàn diện‟‟ nói chung bao gồm ít nhất (1) mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể của các yếu tố chức năng trong việc lập kế hoạch và (2) đánh giá sự phát triển và đề xuất tái phát triển cho hai mươi hai mươi lăm năm sau.
Mô hình lập kế hoạch hay quá trình hợp lý kiến trúc được Friedmann (1978) đề ra : (1) Xây dựng mục tiêu; (2) Xác định và thiết kế các giải pháp thay thế chính để đạt được các mục tiêu được xác định trong tình huống đưa ra quyết định; (3) Dự đoán về những hậu quả chính khi thay thế cấu trúc thiết kế; (4) Đánh giá các hậu quả liên quan đến các mục tiêu mong muốn và các giá trị quan trọng khác; (5) Tham vấn cộng đồng; (6) Quyết định dựa trên thông tin được cung cấp trong các bước trước; (7) Thực hiện quyết định này thông qua các tổ chức thích hợp; (8) Phản hồi về kết quả thực tế của chương trình. Tuy nhiên, nhà khoa học chính trị Lindblom (1995) cho rằng mô hình này hầu như không phù hợp với thực tiễn lập kế hoạch. Tác giả này khẳng định rằng, thay vì khảo sát toàn diện và đánh giá tất cả các lựa chọn thay thế, các nhà hoạch định chính sách nên tập trung vào những chính sách khác biệt từ các chính sách hiện hành, đề cao việc chính phủ cần hỗ trợ công dân trong các quyết định đề xuất cải tiến quy hoạch của họ. Theo Voogd và Woltjer (1999), thảo luận quy hoạch có thể không có hiệu quả nếu nó không dựa trên lập kế hoạch tình báo.
Điều này bao gồm việc thu thập, tổ chức, phân tích và phổ biến thông tin từ các bên liên quan đến việc sử dụng và phát triển quỹ đất. Tại Mỹ, Susan Buckingham-Hatfield và Bob Evans năm 1992 nêu ra thuật ngữ QHMT có thể hiểu là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường. Đến năm 1996, trong cuốn sách “QHMT và phát triển bền vững”, hai tác giả này đã nghiên cứu một số nội dung: Đánh giá, phân tích các khái niệm về Quy hoạch môi trường và phát triển bền vững và các nội dung làm cơ sở cho QHMT. QHMT là quy hoạch lớn dựa trên quá trình thu thập dữ liệu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đáng tin cậy và phù hợp, có sự tham gia của cộng đồng một cách công bằng và đảm bảo tính bền vững.
Một nhà khoa học người Mỹ khác là William J. Petak quan niệm QHMT “tích hợp hiệu quả và thực hiện chính sách môi trường liên quan trực tiếp đến hiệu quả quản lý môi trường. Xây dựng chính sách và chương trình môi trường hiệu quả hơn đòi hỏi phải phối hợp nhiều yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường”. Ông cho rằng cần thiết đưa các nhà sinh thái học tham gia trong hệ thống quản lý/quy hoạch để xác định chính xác hơn các trạng thái tự nhiên từ đó đề xuất với người lãnh đạo các vấn đề cần quản lý xung đột, tạo điều kiện tích hợp thực hiện chính sách, kế hoạch và chương trình môi trường vào quy hoạch không gian.
Ở Singapore, tác giả Leo Lai Choo (1997) đã trình bày quan điểm: QHMT đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm và nghỉ ngơi; giải quyết xung đột về môi trường và phát triển, cần thiết phải quy hoạch trên cơ sở những vấn đề về môi trường. Tại Việt Nam, khi bàn luận về nội dung quy hoạch môi trường, thường được hiểu theo ba cách khác nhau, đó là: 1) Quy hoạch môi trường, 2) Quy hoạch bảo vệ môi trường và 3) Lập kế hoạch môi trường (ít dùng hơn). Tuy nhiên trong thực tiễn có hai loại quy hoạch thường được lập: Một là, lập quy hoạch về mặt không gian (spatial planning) là việc phân chia không gian tại một vùng lãnh thổ nhất định nào đó (khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện) cho các mục đích sử dụng khác nhau dựa trên các đặc điểm về tự nhiên của vùng đó (ở Việt Nam gọi là "phân vùng" – tiếng Anh là "zoning") - sản phẩm cuối cùng là một văn bản kèm theo bản đồ thể hiện các mục đích sử dụng không gian khác nhau (tiếng Anh gọi sản phẩm này là "spatial plan"). Hai là, lập quy hoạch bảo vệ môi trường gồm những việc cần làm để bảo vệ môi trường trên một vùng lãnh thổ nhất định nào đó (khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện), trong đó nhiều nhất là việc lập quy hoạch về sự phát triển (development planning) - sản phẩm cuối cùng là một văn bản kèm theo bản đồ thể hiện những việc cẩn phải làm tại vùng được quy hoạch (tiếng Anh gọi sản phẩn này là "development plan") [Nguyễn Khắc Linh].
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vũ Quyết Thắng đưa ra định nghĩa quy hoạch môi trường “việc xác lập mục tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để cải thiện và phát triển một/những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đề ra” (2005).