Cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An - Luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, góp phần phát triển bền vững.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2017

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết

0.2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

0.3. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Cơ sở dữ liệu

0.5. Các kết quả chính

0.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.7. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan

1.2. Các nghiên cứu về quy hoạch môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường

1.3. Các nghiên cứu theo tiếp cận cảnh quan trong quy hoạch bảo vệ môi trường

1.4. Các nghiên cứu về phân vùng cảnh quan và chức năng môi trường/ chức năng cảnh quan

1.5. Các nghiên cứu có liên quan đến huyện Quỳnh Lưu

1.6. Cơ sở lý luận về quy hoạch bảo vệ môi trường áp dụng cho huyện Quỳnh Lưu

1.7. Quan niệm về quy hoạch bảo vệ môi trường

1.8. Những cơ sở khoa học theo tiếp cận địa lý cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

1.9. Mối quan hệ quy hoạch bảo vệ môi trường và các quy hoạch khác

1.10. Phân vùng cảnh quan và quy hoạch bảo vệ môi trường

1.11. Xác định chức năng các đơn vị cảnh quan cho quy hoạch bảo vệ môi trường lãnh thổ nghiên cứu

1.12. Quan điểm, phương pháp và các bước nghiên cứu

1.12.1. Các quan điểm nghiên cứu

1.12.2. Phương pháp nghiên cứu

1.12.3. Quy trình nghiên cứu

1.13. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CẢNH QUAN – CƠ SỞ KHÔNG GIAN CHO QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUỲNH LƯU

2.1. Các yếu tố thành tạo cảnh quan

2.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

2.2.1. Vị trí địa lý

2.2.2. Điều kiện tự nhiên

2.3. Đặc điểm địa mạo

2.4. Đặc điểm khí hậu, thủy văn

2.5. Đặc điểm thổ nhưỡng

2.6. Thảm thực vật

2.7. Con người với các hoạt động khai thác tài nguyên

2.8. Đặc điểm và sự phân hóa cảnh quan huyện Quỳnh Lưu

2.9. Lựa chọn hệ thống phân loại cảnh quan

2.10. Đặc điểm các đơn vị phân loại của cảnh quan

2.11. Các vùng và tiểu vùng cảnh quan

2.12. Các tiêu chí xác định các đơn vị phân vùng cảnh quan

2.13. Các nguyên tắc và cách thức phân vùng cảnh quan huyện Quỳnh Lưu

2.14. Đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan huyện Quỳnh Lưu

2.15. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, DIẾN BIẾN MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

3.1. Hiện trạng môi trường và các vấn đề môi trường nổi cộm

3.1.1. Hiện trạng môi trường

3.1.2. Các vấn đề môi trường nổi cộm

3.2. Xu thế diễn biến môi trường theo tiểu vùng tại huyện Quỳnh Lưu

3.3. Xác định các chức năng môi trường của từng tiểu vùng cảnh quan phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường

3.4. Định hướng không gian bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

3.5. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

Quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho khu vực này. Huyện Quỳnh Lưu, với vị trí địa lý thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú, đang đối mặt với nhiều thách thức về môi trường. Việc quy hoạch bảo vệ môi trường không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Quỳnh Lưu

Huyện Quỳnh Lưu có vị trí địa lý nằm trên trục giao thông Bắc - Nam, với nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, cần được giải quyết thông qua quy hoạch bảo vệ môi trường.

1.2. Tầm quan trọng của quy hoạch bảo vệ môi trường

Quy hoạch bảo vệ môi trường giúp xác định các biện pháp cần thiết để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững cho huyện Quỳnh Lưu. Điều này không chỉ có lợi cho môi trường mà còn cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

II. Các thách thức trong quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

Huyện Quỳnh Lưu đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường. Những vấn đề này bao gồm ô nhiễm không khí, nước và đất, cũng như sự suy giảm đa dạng sinh học. Việc nhận diện và giải quyết các thách thức này là rất cần thiết.

2.1. Ô nhiễm không khí và nguồn gốc

Ô nhiễm không khí tại huyện Quỳnh Lưu chủ yếu do hoạt động sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải. Cần có các biện pháp kiểm soát ô nhiễm hiệu quả để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.2. Ô nhiễm nguồn nước và tác động

Nước thải từ các hoạt động sản xuất và sinh hoạt đang gây ô nhiễm nguồn nước tại huyện Quỳnh Lưu. Việc xử lý nước thải và bảo vệ nguồn nước là một trong những ưu tiên hàng đầu trong quy hoạch bảo vệ môi trường.

2.3. Suy giảm đa dạng sinh học

Sự phát triển không bền vững đang dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học tại huyện Quỳnh Lưu. Cần có các biện pháp bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái để đảm bảo sự cân bằng môi trường.

III. Phương pháp quy hoạch bảo vệ môi trường hiệu quả

Để thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Các phương pháp này bao gồm đánh giá tác động môi trường, phân tích cảnh quan và lập kế hoạch tổng thể.

3.1. Đánh giá tác động môi trường ĐTM

Đánh giá tác động môi trường là một công cụ quan trọng giúp xác định các tác động tiêu cực của các dự án đến môi trường. Việc thực hiện ĐTM sẽ giúp đưa ra các biện pháp giảm thiểu tác động.

3.2. Phân tích cảnh quan và chức năng môi trường

Phân tích cảnh quan giúp xác định các đơn vị cảnh quan và chức năng môi trường, từ đó đưa ra các giải pháp quy hoạch phù hợp với đặc điểm tự nhiên của huyện Quỳnh Lưu.

3.3. Lập kế hoạch tổng thể cho bảo vệ môi trường

Lập kế hoạch tổng thể là bước quan trọng trong quy hoạch bảo vệ môi trường. Kế hoạch này cần phải được xây dựng dựa trên các dữ liệu khoa học và thực tiễn, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn trong quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu đã cho thấy những kết quả tích cực. Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường đã giúp cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao đời sống người dân.

4.1. Các dự án bảo vệ môi trường thành công

Nhiều dự án bảo vệ môi trường đã được triển khai tại huyện Quỳnh Lưu, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

4.2. Kết quả từ các chương trình giáo dục môi trường

Các chương trình giáo dục môi trường đã nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, từ đó tạo ra sự tham gia tích cực của người dân trong các hoạt động bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho quy hoạch bảo vệ môi trường

Quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu cần được tiếp tục thực hiện và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý môi trường và phát triển các dự án bảo vệ môi trường.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững cần được tích hợp vào quy hoạch bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan

Hợp tác giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng và doanh nghiệp là rất cần thiết để thực hiện hiệu quả quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cảnh quan - cơ sở không gian cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu Chương 3: Đánh giá hiện trạng, diễn biến môi trường và định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan 1. Các nghiên cứu về quy hoạch môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19 đã có quan niệm QHMT rộng rãi trong công chúng. Lý thuyết về QHBVMT được phát triển liên tục từ nhà xã hội học người Pháp – Le Play (1877) thừa nhận phải tích hợp “con người- hoạt động- chỗ ở”, đây là ý tưởng đầu tiên nêu lên vấn đề lồng ghép công tác quy hoạch kinh tế với môi trường.

Vào đầu thế kỷ 20, đến nhà sinh vật học người Scotlen, Sir Patrick Geddes đã nhận thấy sự hình thành song song của “hệ sinh thái – chức năng – sinh vật” (1938) và sau đó là người học trò của ông, Lewis Munford người Mỹ đã mở rộng sự phân tích sinh thái học nhân văn nông thôn áp dụng cho đô thị. Sau này là Ian Harg, nhà quy hoạch cảnh quan và là tác giả của cuốn sách “Thiết kế thiên nhiên (Design with nature)” (1939,1969) đã áp dụng các nguyên tắc bảo tồn thiên nhiên – cảnh quan vào một vài ứng dụng quy hoạch cụ thể. QHBVMT thực sự được quan tâm từ sau khi xuất hiện phong trào môi trường ở Mỹ vào những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan tâm một cách ngiêm túc tới các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển. Đặc biệt, sau khi Bộ luật về môi trường của Mỹ ra đời (NEFA-1969) cũng như các bộ luật về nước sạch, luật về không khí sạch, luật về quản lý vùng ven biển… vào thời điểm này, các thông tin về ô nhiễm môi trường đưa ra ngày càng nhiều, là chủ đề quan tâm lớn trên các bàn hội nghị.

Sự ra đời đạo luật môi trường Mỹ (NEA) cùng với các công cụ quản lý của nó như đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã thổi một luồng gió vào quy hoạch sử dụng đất đai. Ngoài những mục tiêu thông thường khi quy hoạch sử dụng đất, nó còn xử lý những vấn đề khác như chống ô nhiễm môi trường, khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên… Từ thập niên 70 của thế kỉ XX trở đi cũng là thơi kỳ bùng nổ các khái niệm quy hoạch bảo vệ môi trường với nhiều cách hiểu khác nhau. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Quan niệm QHMT đồng nhất với quy hoạch ngành ví dụ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xử lý chất thải, quy hoạch đô thị. Điều này thể hiện rõ trong lý luận của các nhà khoa học châu Âu.

Năm 1984, Badwin chỉ ra rằng QHMT là “việc khởi thảo và điều hành các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu thập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp”. Ortolano (1984) quan niệm “QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn dư và đánh giá tác động môi trường”. Theo Toner, QHMT là “sự ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất”. Theo Robert Everritt và Kimberly Pawley (2001) thì ở châu Âu, thuật ngữ QHMT thường áp dụng cho quá trình quy hoạch sử dụng đất của khu vực hay địa phương.

Nurit Alfasi (2006) cho rằng Hệ thống quy hoạch của Israel, giống như nhiều hệ thống phương Tây khác, là một hệ thống quy định, có nghĩa là các kế hoạch sử dụng đất theo luật định nhằm thiết lập chính sách quy hoạch dài hạn và xác định quyền quy hoạch. Viện Quy hoạch Hoàng gia Anh (RTPI) cho rằng quy hoạch là một hoạt động khoa học do các nhà quy hoạch thực hiện, cơ bản là một quá trình hỗ trợ cộng đồng trong việc ra quyết định về sử dụng đất và các hoạt động kinh tế xã hội có liên quan để bảo tồn, phát triển bền vững, quản lý đất đai và các nguồn lực của nó. Hiện nay, quan điểm coi QHMT chỉ dựa trên quy hoạch đất đai chỉ chiếm ưu thế ở châu Âu, do khái niệm quy hoạch này đưa ra chủ yếu chỉ giải quyết được vấn đề suy thoái đất, trong khi đó các quốc gia châu Á và Bắc Mỹ coi QHMT là một quy hoạch mang tính tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề môi trường. * Quan niệm QHMT là cầu nối quy hoạch không gian và việc lập chính sách môi trƣờng.

Các lý luận theo quan niệm này chủ yếu cho rằng quy hoạch là một bước để thực hiện quản lý môi trường tổng hợp, quản lý hệ sinh thái và quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên nhằm giải quyết các vấn đề môi trường. Quan niệm này thể hiện rõ trong các quan điểm các nhà khoa học Hà Lan và Đức, các nhà khoa học theo quan niệm này thường sử dụng khái niệm lập kế hoạch môi trường (environmental planning) hoặc thiết kế cơ sở hạ tầng (infrastructure 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Alan Gipin định nghĩa “quy hoạch môi trường là sự xác định các mục tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên và đề ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” (1996). Theo Chapin & Kaiser (Đức) (1985), QHMT là „„một kế hoạch toàn diện‟‟ nói chung bao gồm ít nhất (1) mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể của các yếu tố chức năng trong việc lập kế hoạch và (2) đánh giá sự phát triển và đề xuất tái phát triển cho hai mươi hai mươi lăm năm sau.

Mô hình lập kế hoạch hay quá trình hợp lý kiến trúc được Friedmann (1978) đề ra : (1) Xây dựng mục tiêu; (2) Xác định và thiết kế các giải pháp thay thế chính để đạt được các mục tiêu được xác định trong tình huống đưa ra quyết định; (3) Dự đoán về những hậu quả chính khi thay thế cấu trúc thiết kế; (4) Đánh giá các hậu quả liên quan đến các mục tiêu mong muốn và các giá trị quan trọng khác; (5) Tham vấn cộng đồng; (6) Quyết định dựa trên thông tin được cung cấp trong các bước trước; (7) Thực hiện quyết định này thông qua các tổ chức thích hợp; (8) Phản hồi về kết quả thực tế của chương trình. Tuy nhiên, nhà khoa học chính trị Lindblom (1995) cho rằng mô hình này hầu như không phù hợp với thực tiễn lập kế hoạch. Tác giả này khẳng định rằng, thay vì khảo sát toàn diện và đánh giá tất cả các lựa chọn thay thế, các nhà hoạch định chính sách nên tập trung vào những chính sách khác biệt từ các chính sách hiện hành, đề cao việc chính phủ cần hỗ trợ công dân trong các quyết định đề xuất cải tiến quy hoạch của họ. Theo Voogd và Woltjer (1999), thảo luận quy hoạch có thể không có hiệu quả nếu nó không dựa trên lập kế hoạch tình báo.

Điều này bao gồm việc thu thập, tổ chức, phân tích và phổ biến thông tin từ các bên liên quan đến việc sử dụng và phát triển quỹ đất. Tại Mỹ, Susan Buckingham-Hatfield và Bob Evans năm 1992 nêu ra thuật ngữ QHMT có thể hiểu là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường. Đến năm 1996, trong cuốn sách “QHMT và phát triển bền vững”, hai tác giả này đã nghiên cứu một số nội dung: Đánh giá, phân tích các khái niệm về Quy hoạch môi trường và phát triển bền vững và các nội dung làm cơ sở cho QHMT. QHMT là quy hoạch lớn dựa trên quá trình thu thập dữ liệu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đáng tin cậy và phù hợp, có sự tham gia của cộng đồng một cách công bằng và đảm bảo tính bền vững.

Một nhà khoa học người Mỹ khác là William J. Petak quan niệm QHMT “tích hợp hiệu quả và thực hiện chính sách môi trường liên quan trực tiếp đến hiệu quả quản lý môi trường. Xây dựng chính sách và chương trình môi trường hiệu quả hơn đòi hỏi phải phối hợp nhiều yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường”. Ông cho rằng cần thiết đưa các nhà sinh thái học tham gia trong hệ thống quản lý/quy hoạch để xác định chính xác hơn các trạng thái tự nhiên từ đó đề xuất với người lãnh đạo các vấn đề cần quản lý xung đột, tạo điều kiện tích hợp thực hiện chính sách, kế hoạch và chương trình môi trường vào quy hoạch không gian.

Ở Singapore, tác giả Leo Lai Choo (1997) đã trình bày quan điểm: QHMT đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm và nghỉ ngơi; giải quyết xung đột về môi trường và phát triển, cần thiết phải quy hoạch trên cơ sở những vấn đề về môi trường. Tại Việt Nam, khi bàn luận về nội dung quy hoạch môi trường, thường được hiểu theo ba cách khác nhau, đó là: 1) Quy hoạch môi trường, 2) Quy hoạch bảo vệ môi trường và 3) Lập kế hoạch môi trường (ít dùng hơn). Tuy nhiên trong thực tiễn có hai loại quy hoạch thường được lập: Một là, lập quy hoạch về mặt không gian (spatial planning) là việc phân chia không gian tại một vùng lãnh thổ nhất định nào đó (khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện) cho các mục đích sử dụng khác nhau dựa trên các đặc điểm về tự nhiên của vùng đó (ở Việt Nam gọi là "phân vùng" – tiếng Anh là "zoning") - sản phẩm cuối cùng là một văn bản kèm theo bản đồ thể hiện các mục đích sử dụng không gian khác nhau (tiếng Anh gọi sản phẩm này là "spatial plan"). Hai là, lập quy hoạch bảo vệ môi trường gồm những việc cần làm để bảo vệ môi trường trên một vùng lãnh thổ nhất định nào đó (khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện), trong đó nhiều nhất là việc lập quy hoạch về sự phát triển (development planning) - sản phẩm cuối cùng là một văn bản kèm theo bản đồ thể hiện những việc cẩn phải làm tại vùng được quy hoạch (tiếng Anh gọi sản phẩn này là "development plan") [Nguyễn Khắc Linh].

9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vũ Quyết Thắng đưa ra định nghĩa quy hoạch môi trường “việc xác lập mục tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để cải thiện và phát triển một/những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đề ra” (2005).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ