Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, với hơn 35.000 mặt hàng thuốc đang lưu hành và khoảng 5.000 số đăng ký lưu hành mới được cấp mỗi năm, thị trường dược phẩm đóng vai trò then chốt đối với sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Mặc dù cả nước đã có hơn 200 nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP), công tác kiểm soát chất lượng và quy chuẩn kỹ thuật vẫn đối mặt với thách thức lớn khi tỷ lệ thuốc kém chất lượng dao động quanh mức 3% và khoảng 110 lô thuốc bị cơ quan quản lý đình chỉ lưu hành hoặc buộc tái xuất trong giai đoạn 2 năm. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế pháp lý, đánh giá mức độ tương thích của hệ thống quy phạm và phân tích thực tiễn áp dụng các chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về đăng ký và sản xuất thuốc trong lĩnh vực y tế. Luận văn hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ ra những bất cập, lỗ hổng trong các quy định hiện hành và xây dựng giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian pháp lý tại Việt Nam với dữ liệu thực tiễn được khảo sát từ năm 2016 đến ngày 15/11/2020. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thiết thực khi cung cấp hệ thống giải pháp hỗ trợ giảm thiểu ít nhất 20% các hành vi gian dối hồ sơ đăng ký và nâng cao tỷ lệ xử phạt đúng thẩm quyền, đúng thời hiệu lên mức 100% trong hoạt động thanh tra dược phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước bằng pháp luật và lý thuyết trách nhiệm pháp lý hành chính làm nền tảng phân tích. Mô hình nghiên cứu xem xét toàn diện cấu thành vi phạm hành chính bao gồm 4 yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của hành vi vi phạm. Hệ thống lý luận của đề tài gắn liền với 4 khái niệm pháp lý cốt lõi: khái niệm thuốc theo chuẩn mực của Tổ chức Y tế Thế giới và Điều 2 Luật Dược năm 2016; khái niệm vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khái niệm đăng ký thuốc và thẩm định an toàn chất lượng; khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong y tế quy định tại Nghị định số 117/2020/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 176/2013/NĐ-CP. Cơ sở lý thuyết này khẳng định tính chất hàng hóa đặc thù của dược phẩm, đòi hỏi trật tự quản lý hành chính phải được duy trì nghiêm ngặt để triệt tiêu các hành vi vụ lợi đe dọa đến tính mạng và sức khỏe con người.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu của luận văn được thu thập từ nguồn tài liệu pháp điển hóa, các báo cáo thanh tra của Bộ Y tế và cơ sở dữ liệu giám sát của Cục Quản lý Dược. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm hơn 150 vụ việc và quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực tế được thu thập qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích trong giai đoạn 5 năm từ 2016 đến ngày 15/11/2020. Phương pháp chọn mẫu này được lựa chọn nhằm bao quát đầy đủ cả các cơ sở sản xuất trong nước và các văn phòng đại diện, tổ chức nước ngoài tham gia đăng ký thuốc tại Việt Nam. Tác giả vận dụng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học. Việc lựa chọn các phương pháp này nhằm làm rõ sự phát triển của kỹ thuật lập pháp qua từng thời kỳ, đối chiếu sự chuyển giao giữa Nghị định số 176/2013/NĐ-CP và Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, đồng thời đo lường chính xác tác động kinh tế của các mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả giám sát chất lượng định kỳ thông qua việc lấy khoảng 30.000 mẫu thuốc mỗi năm cho thấy tỷ lệ thuốc giả được kiểm soát ở mức thấp khoảng 0,1%, nhưng tỷ lệ thuốc kém chất lượng vẫn ở mức 3%, cho thấy nguy cơ tiềm ẩn từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu và khâu kiểm soát dây chuyền sản xuất. Thứ hai, các sai phạm về đăng ký thuốc diễn ra hết sức tinh vi, trong đó nhóm hành vi sản xuất lưu hành thuốc có thay đổi so với hồ sơ đăng ký đã phê duyệt và hành vi không lưu trữ đầy đủ hồ sơ sản xuất chiếm hơn 40% tổng số các sai phạm bị xử lý. Thứ ba, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã mở rộng diện hành vi và tăng mức tiền phạt rất mạnh, nâng mức phạt tối đa từ 40.000.000 đồng lên 70.000.000 đồng đối với vi phạm về đăng ký thuốc và lên 100.000.000 đồng đối với vi phạm về sản xuất thuốc, đồng thời áp dụng mức phạt tăng từ 1,5 đến 2 lần đối với vi phạm liên quan đến thuốc gây nghiện và thuốc hướng thần.

Thảo luận kết quả

Thực trạng vi phạm gia tăng xuất phát từ việc lợi nhuận trong kinh doanh dược phẩm quá lớn, khiến nhiều cơ sở bất chấp chế tài xử phạt để đưa sản phẩm chưa đủ điều kiện ra thị trường. Bên cạnh đó, các đối tượng vi phạm thường phân tán dây chuyền về vùng ven đô thị hoặc khu vực giáp ranh giữa các tỉnh nhằm né tránh sự thanh tra của cơ quan quản lý. Để phục vụ công tác quản lý và theo dõi trực quan, các dữ liệu xử phạt có thể được mô phỏng chi tiết thông qua một biểu đồ hình quạt thể hiện tỷ trọng các nhóm hành vi vi phạm (như hồ sơ giả mạo, vi phạm chất lượng mức độ 1, 2, 3), song song với một bảng đối chiếu chi tiết các khung tiền phạt và biện pháp khắc phục hậu quả giữa hai giai đoạn áp dụng Nghị định số 176/2013/NĐ-CP và Nghị định số 117/2020/NĐ-CP. So sánh với các nghiên cứu trong các nhánh luật hành chính khác, vi phạm trong lĩnh vực dược phẩm đòi hỏi các hình thức phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn và biện pháp buộc tiêu hủy 100% lô thuốc kém chất lượng mới đủ sức răn đe triệt để.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi và kéo dài thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dược phẩm. Quốc hội và Bộ Y tế cần bổ sung quy định kéo dài thời hiệu xử lý từ 01 năm lên 02 năm đối với các sai phạm về sản xuất và thử nghiệm lâm sàng thuốc, hoàn thành việc sửa đổi trong giai đoạn 2022 - 2024 nhằm hạn chế tối đa nguy cơ hết thời hiệu xử lý đối với các vụ việc cần kiểm nghiệm mẫu phức tạp.

Thứ hai, nâng cao mức phạt tiền và thiết lập cơ chế xử phạt căn cứ theo tỷ lệ doanh thu. Chính phủ cần bổ sung chế tài phạt tiền tương đương 5% đến 10% tổng giá trị lô hàng vi phạm hoặc nâng mức phạt tiền kịch khung đối với tổ chức lên 200.000.000 đồng từ năm 2023, loại bỏ hoàn toàn khả năng thu lợi bất chính từ hành vi vi phạm.

Thứ ba, chuẩn hóa và số hóa toàn diện quy trình thẩm định hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc. Cục Quản lý Dược cần hoàn thiện hệ thống tiếp nhận trực tuyến, hướng tới mục tiêu đến năm 2025 có 100% hồ sơ đăng ký thuốc và nguyên liệu làm thuốc được thẩm định tự động trên nền tảng số, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ ít nhất 30% và phát hiện sớm các tài liệu giả mạo.

Thứ tư, kiện toàn tổ chức và tăng cường tần suất kiểm tra của lực lượng thanh tra y tế. Sở Y tế các tỉnh và thành phố cần tổ chức thanh tra định kỳ 100% nhà máy dược phẩm tối thiểu 2 lần mỗi năm, kết hợp kiểm tra đột xuất tại các điểm gia công, bào chế thuốc đông dược để ngăn chặn vi phạm ngay từ khâu tiếp nhận nguyên liệu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng thanh tra chuyên ngành y tế: Luận văn cung cấp luận cứ pháp lý vững chắc tại Điều 56 và Điều 57 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, hỗ trợ hơn 1.000 cán bộ thanh tra trên cả nước áp dụng chính xác thẩm quyền, lập biên bản chuẩn mực và hạn chế khiếu nại hành chính.

Thứ hai, ban lãnh đạo và chuyên viên pháp chế tại hơn 200 doanh nghiệp sản xuất, phân phối dược phẩm: Đề tài giúp doanh nghiệp rà soát toàn bộ quy trình vận hành, nhận diện sớm hơn 20 nhóm hành vi vi phạm tiềm ẩn về thay đổi hồ sơ kỹ thuật, bảo đảm tuân thủ đúng chuẩn GMP và triệt tiêu rủi ro bị đình chỉ hoạt động.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đào tạo Luật và Dược học: Công trình là nguồn tư liệu học thuật phong phú với hơn 40 văn bản pháp quy và tài liệu tham khảo, hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa Luật Hành chính và Luật Dược năm 2016.

Thứ tư, luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý trong lĩnh vực y tế: Luận văn cung cấp phương pháp luận giải quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu nại liên quan đến thu hồi số đăng ký hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế tiêu hủy thuốc.

Câu hỏi thường gặp

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất thuốc không đạt chuẩn là bao lâu?
Căn cứ Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là 01 năm kể từ ngày chấm dứt hoặc phát hiện hành vi. Khi hết thời hạn 12 tháng, người có thẩm quyền không được ra quyết định phạt tiền nhưng vẫn bắt buộc ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thu hồi và tiêu hủy toàn bộ số thuốc kém chất lượng.

Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức vi phạm quy định về đăng ký thuốc là bao nhiêu?
Theo quy định tại Điều 56 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân có hành vi vi phạm về đăng ký thuốc là 70.000.000 đồng. Áp dụng nguyên tắc mức phạt của tổ chức bằng 2 lần cá nhân, mức phạt tiền tối đa đối với cơ sở, doanh nghiệp đăng ký thuốc vi phạm có thể lên tới 140.000.000 đồng.

Hành vi sản xuất thuốc khi giấy đăng ký lưu hành đã hết hạn bị xử lý thế nào?
Hành vi này bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức theo Điều 57 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP. Cơ sở vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thu hồi và tiêu hủy 100% lô thuốc đã sản xuất.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt cơ sở sản xuất thuốc vi phạm không?
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có thẩm quyền xử phạt tiền tối đa đến 5.000.000 đồng theo Điều 103 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP. Vì các hành vi vi phạm về sản xuất thuốc đều có khung tiền phạt từ 10.000.000 đồng trở lên, thẩm quyền xử lý bắt buộc phải thuộc về Chánh Thanh tra Sở Y tế hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Khi nào cơ sở kinh doanh dược có quyền thực hiện thủ tục giải trình trực tiếp?
Cơ sở có quyền yêu cầu giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản khi bị áp dụng hình thức phạt bổ sung tước giấy phép, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đối mặt với mức phạt tiền kịch khung từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn các yêu cầu lý luận và thực tiễn với các điểm sáng nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện 6 nguyên tắc và cơ sở lý luận xử phạt vi phạm hành chính trong ngành dược.
  • Phân tích và làm rõ 2 nhóm hành vi vi phạm trọng tâm về đăng ký và sản xuất thuốc theo Nghị định số 117/2020/NĐ-CP.
  • Đánh giá thực trạng kiểm soát hơn 30.000 mẫu thuốc hàng năm và chỉ ra các vướng mắc trong việc áp dụng thời hiệu xử phạt 01 năm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi khung tiền phạt, kéo dài thời hiệu đến số hóa hồ sơ đăng ký.
  • Cung cấp cẩm nang thực tiễn cho hơn 200 nhà máy sản xuất thuốc và hệ thống thanh tra y tế trên cả nước.

Trong lộ trình 2024 - 2026, việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao năng lực giám sát dược phẩm là điều kiện tiên quyết để bảo vệ sức khỏe nhân dân. Các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và doanh nghiệp hãy khai thác chi tiết các luận cứ trong toàn văn công trình để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý và hoạt động kinh doanh.