MỞ ĐẦU Bệnh truyền nhiễm luôn nhận được sự quan tâm của nền y tế toàn cầu. Những mầm bệnh trước đây đã được kiểm soát nhưng nay thường xuyên biến đổi kết hợp với các căn nguyên mới xuất hiện gây khó khăn cho kiểm soát dịch bệnh cũng như điều trị bệnh truyền nhiễm. Theo CDC 4470 ca bệnh Spotted fever group được báo cáo ở Mỹ năm 2012, 18000 trường hợp Scrub typhus group (sốt mò) được báo cáo trong chiến tranh thế giới thứ II. Trong thời gian gần đây, ước tính mỗi năm có khoảng 1 triệu trường hợp sốt mò và có tới 1 tỷ người sống trong các vùng lưu hành bệnh có nguy cơ lây nhiễm thì Rickettsia là căn nguyên gây bệnh đáng được chú ý.
Rickettsia được sử dụng như một thuật ngữ chung cho nhiều vi khuẩn nội bào bắt buộc không thể nhận dạng bằng các phương pháp nuôi cấy truyền thống. Dựa trên đặc điểm hình thái, kháng nguyên, và chuyển hóa, Rickettsia được phân loại thành các nhóm sau: Spotted Fever Group (SFG), Typhus Group (TG) và Scrub Typhus Group (STG). Dựa vào các tác nhân gây bệnh khác nhau cùng với các cơ chế lan truyền, phân bố địa lý, sự hạn chế trong việc chẩn đoán, tình hình dịch tễ học và đánh giá về mức độ nghiêm trọng của bệnh do Rickettsiaceae gây ra trong khu vực Đông Nam Á được xem là một thách thức khó khăn. Hàng trăm trường hợp tử vong và hàng ngàn trường hợp nhiễm bệnh đã không được chẩn đoán.
Việc chẩn đoán bệnh do Rickettsiaceae ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào lâm sàng và yếu tố dịch tễ. Bệnh do Rickettsiaceae có bệnh cảnh lâm sàng đa dạng dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Thêm vào đó, bệnh có thể để lại những biến chứng thần kinh nặng nề và có thể gây tử vong cho bệnh nhân. Do vậy, chẩn đoán xác định căn nguyên gây bệnh sớm và chính xác để điều trị sớm có ý nghĩa rất lớn.
Các xét nghiệm chẩn đoán mầm bệnh đã được áp dụng như phương pháp huyết thanh học (phản ứng Weil – Felix), nhưng phương pháp này còn nhiều hạn chế, chỉ chẩn đoán được một vài loài nhất định và dễ xảy ra các phản ứng chéo gây sai lệch kết quả. Phương pháp phân lập mầm bệnh bằng tiêm truyền mầm bệnh, phương pháp này nuôi cấy trực tiếp vi khuẩn trong tế bào động vật rất khó và nguy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểm cho người thực hiện thí nghiệm. Các phương pháp gần đây như ELISA, IFA thao tác dễ, tiết kiệm chi phí, tuy nhiên các phương pháp này chẩn đoán được khi thời gian nhiễm vi khuẩn từ 15-26 ngày, hạn chế trong việc chẩn đoán sớm. Từ đó đặt ra nhu cầu cần những phương pháp chẩn đoán mới, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao, thời gian trả lời kết quả sớm.
Phương pháp real-time PCR trong chẩn đoán Rickettsiaceae gây bệnh ở người đã cho những kết quả khả quan. Phương pháp này sẽ giúp xác định sớm, chính xác mầm bệnh, định hướng thầy thuốc lâm sàng điều trị đặc hiệu kịp thời, làm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong của bệnh do Rickettsiaceae. Chính vì những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng qui trình real-time PCR phát hiện vi khuẩn Rickettsia gây bệnh ở người.” Với hai mục tiêu chính: 1. Xây dựng kĩ thuật real-time PCR phát hiện vi khuẩn O.
tsutsugamushi và các loài Rickettsia. Áp dụng kĩ thuật real-time PCR xác định các mầm bệnh gây sốt Rickettsiaceae trên mẫu bệnh phẩm thu thập được tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 từ tháng 6/2016 - tháng 9/2017. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Giới thiệu về Rickettsiaceae 1.
Lịch sử, phân loại và đặc điểm của Rickettsiaceae Rickettsia được biết đến như là các căn nguyên gây bệnh ở động vật có xương sống với các vectơ truyền bệnh thuộc nhóm động vật chân đốt. Trước đây Rickettsia được sử dụng như một thuật ngữ chung cho nhiều vi khuẩn không thể nhận dạng bằng các phương pháp nuôi cấy truyền thống. Rickettsia được đặt tên sau khi nhà bệnh học Howard Taylor Ricketts phát hiện ra mầm bệnh sốt phát ban (1906) và ông bị chết vì nhiễm bệnh này trong thời gian nghiên cứu [20]. Bằng sự phát triển của các kỹ thuật phân tử gần đây, sự phân loại các loài Rickettsia có sự thay đổi lớn.
Rickettsia tsutsugamushi đã được chứng minh đủ điều kiện để phân loại thành một chi mới là Orientia [65]. Dựa trên đặc điểm hình thái, kháng nguyên và chuyển hóa, Rickettsia được phân loại thành hai nhóm bệnh: Spotted Fever Group (SFG) và Typhus Group (TG); Orientia gây bệnh Scrub Typhus Group (STG) hay còn gọi là bệnh sốt mò ở Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bechah và cộng sự (2008), chi Rickettsia có 24 loài gây bệnh và Orientia chỉ có một loài duy nhất là Orientia tsutsugamushi (Rickettsia tsutsugamushi). Phân loại các loài Rickettsiaceae được thể hiện như hình 1.1: Phân loại Rickettsiaceae 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Hình ảnh Rickettsia trong tế bào vật chủ [71] Các vi khuẩn trong chi Rickettsia là các loài sống nội bào bắt buộc có chiều dài khoảng 0,8 - 2,0 µm, chiều rộng khoảng 0,3 - 0,5 µm, đa hình thái, hình dạng thay đổi qua các giai đoạn phát triển: cầu khuẩn đứng riêng rẽ hoặc thành từng đôi có khi xếp thành chuỗi ngắn hoặc từng đám trong hoặc ngoài tế bào.
Tế bào chất của các vi khuẩn này chứa ribosome, các sợi ADN và được bao bọc bởi cấu trúc của tế bào Gram âm điển hình với một lớp peptidoglycan và lipopolysaccharide ở màng ngoài, nhưng không có tiên mao [53]. Bộ gene của các loài thuộc Rickettsia là một ADN đơn dạng vòng, có kích thước lên đến 1-1,4Mbp. Có khoảng 900 - 1500 gene tùy loài, trong đó có 704 protein và 39 RNA chung cho tất cả các loài [4, 45]. Gen đầu tiên được sử dụng cho mục đích phát sinh loài là 16S rDNA [55].
Sau đó, nghiên cứu phát sinh loài dựa trên các trình tự gen khác bao gồm gltA (gen mã hóa tổng hợp citrate) [57], gen mã hóa protein 17kDa [3] và nhóm gen kháng nguyên bề mặt tế bào (SCA): ompA, ompB, sca4, sca1 và sca2 [18, 44, 56, 43]. Phân tích phát sinh loài dựa trên trình tự gen mã hóa protein 17kDa không cho nhiều giá trị ý nghĩa. Ngược lại, dựa trên trình tự gen gltA có thể xây dựng mối quan hệ phát sinh loài. tsutsugamushi là vi khuẩn có chiều rộng khoảng 0,5 µm và chiều dài từ 1,2 đến 3,0µm, lớn hơn so với các vi khuẩn nhóm SFG và TG [24].
Hơn nữa cấu tạo tế bào của O. tsutsugamushi bị thiếu lớp peptidoglycan và lipopolysaccharide khác với các loài Rickettsia khác [2]. tsutsugamushi có kích thước hệ gen dao động từ 2,0 đến 2,7 Mb bao gồm 1967 trình tự mã hóa protein và khoảng 46,7% là các trình tự lặp lại [41]. tsutsugamushi chứa nhiều biến thể kháng nguyên, bao gồm Gilliam, 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kato, Karp, Kawasaki, Kuroki và các loại khác.
Sự thay đổi kháng nguyên này phụ thuộc phần lớn vào sự đa dạng của kháng nguyên đặc hiệu loài 56kDa (TSA) nằm trên bề mặt của màng vi khuẩn [52]. Với một khung đọc mở (ORF) là 1600 bp, TSA 56kDa gồm có 516-541 amino axit và tham gia vào việc xâm nhập vào tế bào chủ thông qua sự kết hợp của fibronektyin. Có bốn domain biến thể trong vùng này, các domain biến thể (VD) I-IV, chịu trách nhiệm về mức độ biến đổi kháng nguyên lớn ở gen [37]. Họ vi khuẩn Rickettsiaceae sinh sản bằng hình thức chia đôi giống như vi khuẩn.
Tuy nhiên tốc độ sinh sản chậm so với vi khuẩn và virut khác. Trong nuôi cấy tế bào, thời gian 1 thế hệ là 8-10 giờ ở nhiệt độ 32-35oC [53]. Dịch tễ học của các bệnh ở người do Rickettsiaceae gây ra liên quan đến đặc điểm sinh học của vectơ truyền bệnh. Bệnh do Rickettsiaceae rất khác nhau ở mức độ nghiêm trọng từ bệnh nhẹ không cần điều trị đến việc nhiễm trùng đe dọa tính mạng.
Các bệnh do Rickettsiaceae gây ra Các bệnh gây ra bởi các sinh vật trong nhóm Rickettsiaceae được công nhận và có thể được chia thành 3 nhóm bệnh sau: Spotted Fever Group (SFG), Typhus Group (TG) và Scrub Typhus Group (STG) [73]. - Nhóm bệnh SFG được chia theo từng bệnh như sau: Rocky Mountain spotted fever (RMSF) do Rickettsia rickettsii gây bệnh; Rickettsialpox do Rickettsia akari gây ra; Boutonneuse fever,… - Nhóm bệnh TG có đặc điểm dịch tễ học giống nhau, do các loài vi khuẩn Rickettsia prowazekii và Rickettsia typhi là căn nguyên gây bệnh chính: Louse- borne typhus, Brill-Zinsser disease, Murine typhus,… - Tác nhân gây bệnh sốt mò (STG) chỉ có một loài duy nhất là O. tsutsugamushi, có ba kiểu huyết thanh học chủ yếu là Karp, Gilliam, Kato. Các vector lây truyền Vật chủ mà Rickettsiaceae kí sinh rất đa dạng, tất cả các loài đều có liên quan đến động vật chân đốt.
Một số loài Rickettsiaceae có thể lan truyền trong động vật có xương sống, một số loài gây bệnh ở người và động vật, do chúng lây truyền 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bởi các động vật chân đốt như bọ chét, chấy, chấy hoặc ve và hiện nay các loài Rickettsiaceae đã được công bố gần như trên toàn thế giới [49]. Cho đến nay ve, rận và bọ chét trong giới Ixodidea, Phtiraptera, và Siphonaptera tương ứng được biết đến như là các vector lây truyền tác nhân gây bệnh Rickettsia. Năm 2012, Socolovschi và cộng sự cho rằng muỗi cũng là một trong số các vector lây truyền R. felis đáng chú ý [62].
Mò Leptotrombidium là vector truyền bệnh của vi khuẩn thuộc chi Orientia [25]. Động vật chân đốt đồng thời cũng là ổ chứa và nơi nhân lên của vi khuẩn chúng còn đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan. Tuy nhiên cách thức lây truyền từ động vật chân đốt sang người là khác nhau. Vi khuẩn lây nhiễm vào vật chủ qua nước bọt, vết đốt của côn trùng như ve, bét, chấy rận hoặc mò mạt.
Ngoài ra chúng còn được truyền qua phân qua vết xước ở da vật chủ [50]. Rickettsia và Orientia lây nhiễm sang các tế bào da như lớp nội mạc mạch máu (tế bào bị nhiễm chính), nguyên bào sợi, tế bào nội mô bạch huyết và đại thực bào.3: Các vector lây truyền tác nhân gây bệnh Rickettsia [38] Các loài Rickettsiaceae được duy trì trong tự nhiên bằng cách truyền trực tiếp hay gián tiếp tới những con bọ không nhiễm bệnh thông qua đường ruột những con bọ này khi đốt nhưng loài gặm nhấm hay động vật khác bị nhiễm Rickettsiaceae (hình 1. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4: Chu kỳ nhiễm bệnh Sốt Mò 1. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh do Rickettsiaceae.
Bệnh sốt do Rickettsiaceae được tìm thấy ở mọi châu lục trừ Nam Cực [17] Hình 1.5: Phân bố các loài Rickettsiaceae gây bệnh.