MỞ ĐẦU Nước khan hiếm và ô nhiễm cùng với biến đổi khí hậu là những biến động môi trường rõ rệt nhất trong thế kỷ XXI. Ở nước ta, với sự phát triển không ngừng của nền công nghiệp, dẫn đến môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. Nước sạch dùng cho sinh hoạt hàng ngày, nông nghiệp và công nghiệp đang trở nên cạn kiệt dần. Vì vậy, việc xử lý nước thải của các khu công nghiệp, làng nghề trở nên rất cần thiết và cấp bách.
Trong nước thải công nghiệp, làng nghề, thành phần khó xử lý nhất là chất hữu cơ khó phân hủy sinh học. Với bản chất khó phân hủy bởi vi sinh, tồn tại bền vững trong môi trường, chất hữu cơ khó phân hủy sinh học sẽ là mối nguy hại lâu dài tới sức khỏe con người và môi trường. Chẳng hạn như: metylen xanh, phenol đỏ, rhodamine B, malachite xanh… Có nhiều phương pháp xử lý nước thải được nghiên cứu, trong đó phương pháp oxi hóa các hợp chất hữu cơ bằng cách sử dụng xúc tác quang là phương pháp có nhiều ưu điểm. ZnO là chất bán dẫn thuộc loại A(II)B(VI), có vùng cấm rộng ở nhiệt độ phòng cỡ 3,3 eV nên chủ yếu ánh sáng tử ngoại (UV) mới kích thích được điện tử từ vùng hóa trị lên vùng dẫn và gây ra hiện tượng xúc tác quang.
So với TiO2 thì ZnO có độ rộng vùng cấm tương đương (độ rộng vùng cấm của TiO2 là 3,2 eV) nhưng ZnO hấp thụ nhiều phổ mặt trời hơn. Do ZnO với hoạt tính quang hóa cao, không độc hại và giá thành thấp nên được sử dụng nhiều cho các phản ứng quang hóa. Để sử dụng được ánh sáng mặt trời vào quá trình xúc tác quang của kẽm oxit, cần thu hẹp vùng cấm của nó. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, khi pha tạp ZnO bằng một số ion kim loại và phi kim là cách thức hiệu quả để mở rộng khả năng hấp thụ ánh sáng từ vùng tử ngoại sang vùng khả kiến.
Ở Việt Nam, trấu là một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất nông nghiệp (quá trình xay xát lúa). Theo truyền thống, vỏ trấu được xử lý tại bãi chôn lấp, dẫn đến việc gây mất mĩ quan, hiện tượng phú dưỡng và nhiễu loạn trong đời sống thủy sinh. Vì vậy, việc sử dụng vỏ trấu làm vật liệu trong việc xử lý nước thải công 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Bích Ngọc K22 nghiệp, làng nghề sẽ giải quyết một phần vấn đề ô nhiễm chất thải nông nghiệp, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chính vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Cố định ZnO trên tro trấu làm chất quang xúc tác phân hủy phẩm màu hữu cơ dƣới ánh sáng trông thấy” cho nghiên cứu của mình.
Nội dung chính của luận văn bao gồm: - Chế tạo vật liệu oxit ZnO và biến tính bằng tro trấu để tạo vật liệu xử lý quang xúc tác với chất màu (xanh metylen). - Khảo sát các đặc trưng của vật liệu. - Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quang xúc tác xử lý chất màu của vật liệu chế tạo được nhằm tìm ra những điều kiện thích hợp cho quá trình xử lý. - Khảo sát khả năng xử lý nước thải làng nghề Dương Nội, Hà Nội bằng vật liệu ZnO-tro trấu.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Bích Ngọc K22 CHƢƠNG 1-TỔNG QUAN 1. Công nghiệp dệt nhuộm và sự ô nhiễm nƣớc thải dệt nhuộm 1. Công nghiệp dệt nhuộm [1] 1. Tình hình ngành công nghiệp dệt nhuộm những năm gần đây Dệt nhuộm được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hiện nay, ngành này đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá mạnh. Khi Việt Nam thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường thế giới, tham gia trên một sân chơi rộng khắp toàn cầu. Ngành dệt may đã tận dụng những cơ hội mang lại và phần nào đã chuyển những thách thức thành những kết quả đáng ghi nhận của ngành. Năm 2007, ngành đạt kim ngạch xuất khẩu 7,78 tỷ USD, tăng 33,4% so với năm 2006, tăng hơn năm 2006 gần 2 tỉ USD.
Năm 2008 đạt 6,84 tỷ USD (tăng trên 20% so với cùng kỳ 2007). Đặc biệt, trong năm 2009, xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản tăng từ 23% đến 25%. Đây là thành công lớn của ngành dệt may Việt Nam. Việt Nam và Nhật Bản đã ký hiệp định song phương từ ngày 1/10/2009, thuế suất của hàng dệt may từ Việt Nam vào Nhật Bản được cắt giảm.
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam năm 2009 đạt gần 9,2 tỷ USD, tăng gần 2% so với năm trước.Việt Nam đang là một trong những điểm đến hấp dẫn, ưu tiên đầu tư của nhiều công ty nước ngoài. Đặc biệt, với năng lực cạnh tranh, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày một cao, Việt Nam đang được các nhà nhập khẩu Mỹ ưa chuộng và tin tưởng đặt hàng. Tháng 1/2010 khởi đầu với nhiều thuận lợi, nhiều doanh nghiệp đã nhận được đơn đặt hàng với khối lượng lớn như: Tổng công ty may Việt Tiến, Tổng công ty may 10, Công ty may Sài Gòn 2, Tổng công ty Dệt Phong Phú, Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) ,. Ngành dệt may Việt Nam dự báo, với những dấu hiệu lạc quan này, xuất khẩu dệt may trong năm 2010 sẽ đạt khoảng 10,5 tỷ USD, đạt tăng trưởng 12%.
Bên cạnh những lợi ích tạo ra giá trị thặng dư đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội, thì những tác hại gây ô nhiễm môi trường đem lại cũng không phải là nhỏ. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Bích Ngọc K22 Dệt nhuộm là một trong những ngành sử dụng nhiều nước và hoá chất trong đó, các công đoạn tạo ra nước thải của công nghiệp dệt nhuộm bao gồm: hồ sợi, giũ hồ, nấu vải, tẩy, nhuộm, làm bền mầu và giặt vải. Tuỳ theo công đoạn và phương pháp công nghệ sử dụng, nước thải có chứa các chất ô nhiễm khác nhau. Đáng chú ý nhất là các công đoạn tẩy trắng và nhuộm màu.
Giới thiệu về làng nghề dệt nhuộm Dƣơng Nội - Hà Đông - Hà Nội Làng nghề có ý nghĩa lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Hoạt động làng nghề thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, giải quyết việc làm cho hơn 11 triệu lao động (chiếm 30% lực lượng lao động nông thôn). Kim ngạch xuất khẩu từ lĩnh vực làng nghề năm 2008 đạt gần 900 triệu USD. Cũng nhờ sự phát triển các làng nghề, bộ mặt nông thôn đã được đổi mới, cơ sở hạ tầng tại nhiều làng nghề đã phát triển khá hơn so với các làng thuần nông.
Đặc biệt, ở các làng nghề dệt nhuộm, như các làng nghề dệt nhuộm Dương Nội và Vạn Phúc thuộc Hà Đông, mức thu nhập của người lao động cao gấp từ 3 - 4 lần so với thu nhập của người lao động thuần nông. Xã Dương Nội là một xã có ngành nghề sản xuất vải khá phát triển với ba thôn là La Dương, La Nội và Ỷ La nằm phía Tây Bắc quận Hà Đông, có tổng diện tích tự nhiên là 585,31 ha, 16.500 nhân khẩu, trong đó hơn 2.000 người tham gia nghề dệt nhuộm tại 29 cơ sở sản xuất tập trung ở hai thôn Ỷ La và La Nội. Sản phẩm lụa tơ tằm, vải các loại và in hoa. Sản xuất của các làng nghề ở quy mô hộ gia đình với các thiết bị máy móc thô sơ, lạc hậu chủ yếu sản xuất trong nước.
Lượng nước thải sau sản xuất không được xử lý đã thải trực tiếp ra hệ thống cống rãnh và đổ thẳng xuống hồ ao, sông ngòi gây ô nhiễm nghiêm trọng tầng nước mặt, mạch nước ngầm. Các loại thuốc nhuộm [13] a. Nhóm thuốc nhuộm hoà tan trong nƣớc Đặc điểm chung của thuốc nhuộm loại này là chúng hòa tan trong nước nên khi chuẩn bị dung dịch nhuộm hoặc hồ in dễ dàng hơn. Một số loại thường gặp là: thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Bích Ngọc K22 * Thuốc nhuộm trực tiếp: Có công thức tổng quát dạng: Ar-SO3Na. Đây là nhóm thuốc nhuộm bắt màu trực tiếp với xơ sợi không qua giai đoạn xử lý trung gian, thường sử dụng để nhuộm sợi 100% cotton, sợi protein (tơ tằm) và sợi poliamid. Nhóm phẩm nhuộm này bao gồm: thuốc nhuộm azo (- N=N-) và thuốc nhuộm là dẫn xuất của dioxazin, dẫn xuất của ftaloxianin. Ngoài ra, trong thuốc nhuộm còn có chứa các nhóm làm tăng tốc độ bắt màu như triazin và axit salicilic có thể tạo phức với các kim loại để tăng độ bền màu.
* Thuốc nhuộm axit: Là các muối sunfonat của các hợp chất hữu cơ khác nhau có công thức dạng Ar-SO3Na, khi tan trong nước phân ly thành nhóm Ar-SO3 mang màu. Thuốc nhuộm axit dễ dàng hoà tan trong nước hơn thuốc nhuộm trực tiếp, một số trường hợp hoà tan ngay ở nhiệt độ thường. Trong môi trường axit, độ bắt màu vào vật liệu đạt tới 80-90% bằng liên kết ion, phương trình tổng quát như sau: Ar-SO3Na + Ar1-NH3+Cl Ar-SO3-H3N+-Ar1+ NaCl Ở đây, Ar là ký hiệu cho gốc thuốc nhuộm, Ar1 ký hiệu cho vật liệu in hoa. Thuốc nhuộm axit có màu sắc phong phú, được dùng chủ yếu để nhuộm và in hoa những loại xơ sợi và vật liệu cấu tạo từ protit như len, lụa tơ tằm và sợi tổng hợp họ polyamit.
* Thuốc nhuộm hoạt tính: Thuốc nhuộm hoạt tính chứa trong phân tử của nó các nhóm nguyên tử có thể tạo liên kết hoá trị với các nhóm định chức của vật liệu nhuộm hoặc in, làm cho chúng trở thành một bộ phận của xơ sợi hay vật liệu khác. Do vậy, chúng có độ bền màu cao với giặt, ma sát và các chỉ tiêu hoá lý khác (nhiệt độ, ánh sáng). Các loại thuốc nhuộm thuộc nhóm này có công thức cấu tạo tổng quát là S-F-T-X trong đó: + S là nhóm làm cho thuốc nhuộm có tính tan thường là: -SO3Na, -COONa, -SO2CH3. + F là phần mang màu, không ảnh hưởng đến mối liên kết giữa thuốc nhuộm và xơ.
Nó quyết định màu sắc, độ bền với ánh sáng, thường là các hợp chất Azo (- N=N-), antraquynon, axit chứa kim loại hoặc ftaloxiamin. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Bích Ngọc K22 + T là gốc mang nhóm phản ứng, X là nhóm phản ứng.