Luận văn quản trị vốn lưu động Công ty Hoa Phúc Dương VP - HVTC

Dưới đây là kết quả tạo meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Quản trị vốn lưu động là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của công ty.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp

Quản trị vốn lưu động là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều phối và kiểm soát các nguồn lực tài chính ngắn hạn nhằm đảm bảo doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định. Vốn lưu động bao gồm tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn, phản ánh khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Tại Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP, vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động trơn tru, từ khâu mua nguyên liệu đến tiêu thụ sản phẩm. Quản trị hiệu quả vốn lưu động giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí tài chính, giảm thiểu rủi ro thiếu hụt vốn và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo lý thuyết tài chính doanh nghiệp, vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, do đó việc quản trị không chỉ ảnh hưởng đến dòng tiền mà còn tác động trực tiếp đến lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm và vai trò của vốn lưu động

Vốn lưu động là khoản vốn ngắn hạn được doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, bao gồm tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho và chi phí trả trước. Khác với vốn cố định, vốn lưu động có tính thanh khoản cao và luân chuyển nhanh trong chu kỳ kinh doanh. Vai trò quan trọng nhất của vốn lưu động là đảm bảo doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất không gián đoạn, đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tại doanh nghiệp thương mại như Hoa Phúc Dương VP, vốn lưu động chiếm tới 60-70% tổng tài sản, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào quản trị dòng tiền ngắn hạn. Ngoài ra, vốn lưu động còn giúp doanh nghiệp tận dụng các cơ hội kinh doanh, chẳng hạn như chiết khấu thanh toán từ nhà cung cấp hoặc mở rộng thị trường thông qua chính sách bán chịu linh hoạt.

1.2. Các thành phần cấu thành vốn lưu động

Vốn lưu động được cấu thành từ bốn thành phần chính: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho và chi phí trả trước. Tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đảm bảo khả năng thanh toán tức thời. Khoản phải thu phát sinh từ chính sách bán chịu, phản ánh khoản vốn doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng. Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm, chiếm tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại. Chi phí trả trước là khoản vốn doanh nghiệp bỏ ra trước cho các dịch vụ như thuê mặt bằng, bảo hiểm, hoặc chi phí marketing. Tại Công ty Hoa Phúc Dương VP, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao nhất do đặc thù kinh doanh thương mại, trong khi khoản phải thu tăng mạnh vào mùa cao điểm do chính sách bán chịu mở rộng.

II. Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP

Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP hoạt động trong lĩnh vực phân phối sản phẩm tiêu dùng, với mô hình kinh doanh chủ yếu là nhập khẩu và bán buôn. Trong giai đoạn 2019-2021, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu tăng trưởng trung bình 15%/năm, tuy nhiên công tác quản trị vốn lưu động còn tồn tại nhiều hạn chế. Số liệu tài chính cho thấy vốn lưu động bình quân chiếm 45% tổng tài sản, cao hơn mức trung bình ngành 35%, phản ánh sự dư thừa vốn trong khâu tồn kho và khoản phải thu. Nguyên nhân chính xuất phát từ chính sách quản trị dòng tiền thiếu chặt chẽ, dẫn đến tình trạng tồn kho ứ đọng do dự báo nhu cầu không chính xác. Ngoài ra, việc thiếu quy trình thu hồi nợ chuẩn hóa khiến tỷ lệ nợ xấu tăng lên 8%, cao hơn mức an toàn 5%. Những hạn chế này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính, khi tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động chỉ đạt 12%, thấp hơn mức kỳ vọng 18%.

2.1. Phân tích tình hình vốn lưu động và phân bổ

Tại Công ty Hoa Phúc Dương VP, vốn lưu động được phân bổ chủ yếu vào hàng tồn kho (55%) và khoản phải thu (30%), trong khi tiền mặt chỉ chiếm 10%. Phân tích chi tiết cho thấy tồn kho nguyên vật liệu và thành phẩm chiếm tới 40% tổng vốn lưu động, cao hơn mức tiêu chuẩn ngành 25-30%. Điều này xuất phát từ việc doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa với số lượng lớn để tận dụng chiết khấu từ nhà cung cấp, nhưng không có kế hoạch tiêu thụ hợp lý. Bên cạnh đó, khoản phải thu tăng mạnh vào cuối năm do chính sách bán chịu mùa lễ tết, dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn lưu động vào đầu năm sau. Việc phân bổ vốn lưu động không cân đối đã gây ra hiện tượng ứ đọng vốn trong khi thiếu hụt vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh quan trọng.

2.2. Đánh giá hiệu quả quản trị nợ phải thu và hàng tồn kho

Hiệu quả quản trị khoản phải thu tại Công ty Hoa Phúc Dương VP còn nhiều bất cập. Kỳ thu tiền bình quân lên tới 45 ngày, cao hơn mức trung bình ngành 30 ngày, cho thấy doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi công nợ. Nguyên nhân chính là do chính sách bán chịu quá linh hoạt, thiếu cơ chế đánh giá tín dụng khách hàng. Bên cạnh đó, công tác theo dõi và đôn đốc thu hồi nợ chưa được hệ thống hóa, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng lên 8%. Đối với hàng tồn kho, doanh nghiệp áp dụng phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO), nhưng không có hệ thống quản lý tồn kho tự động, gây ra tình trạng thất thoát và hư hỏng sản phẩm. Những hạn chế này đã làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động, khi tỷ lệ quay vòng vốn chỉ đạt 4 lần/năm, thấp hơn mức kỳ vọng 6 lần.

III. Giải pháp cải thiện quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp

Để nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động, Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoạch định chiến lược đến cải tiến quy trình vận hành. Trước tiên, doanh nghiệp nên xây dựng kế hoạch vốn lưu động dựa trên dự báo nhu cầu chính xác, kết hợp với phân tích xu hướng thị trường. Áp dụng phương pháp quản trị tồn kho Just-in-Time (JIT) sẽ giúp giảm thiểu chi phí lưu kho và rủi ro ứ đọng. Bên cạnh đó, việc xây dựng chính sách tín dụng khách hàng chặt chẽ, bao gồm giới hạn tín dụng và thời hạn thu hồi, sẽ cải thiện tỷ lệ thu hồi nợ. Đầu tư vào hệ thống quản lý tài chính tự động (ERP) sẽ tối ưu hóa theo dõi dòng tiền và cảnh báo sớm các rủi ro. Ngoài ra, doanh nghiệp cần đa dạng hóa nguồn vốn bằng cách sử dụng tín dụng ngắn hạn từ ngân hàng với lãi suất cạnh tranh, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào vốn chủ sở hữu.

3.1. Lập kế hoạch và xác định nhu cầu vốn lưu động hợp lý

Việc lập kế hoạch vốn lưu động cần dựa trên phân tích dự báo doanh thu, chi phí và chu kỳ kinh doanh. Doanh nghiệp nên sử dụng phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động theo từng khâu: sản xuất, lưu thông và thanh toán. Đối với vốn dự trữ thành phẩm, doanh nghiệp cần tính toán dựa trên doanh thu dự kiến và thời gian lưu kho trung bình. Đối với khoản phải thu, kỳ thu tiền cần được kiểm soát chặt chẽ thông qua chính sách bán chịu và biện pháp thu hồi nợ linh hoạt. Ngoài ra, doanh nghiệp nên áp dụng mô hình quản trị vốn lưu động theo phương pháp cân đối tài sản nợ (Asset-Liability Matching), đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Việc xác định nhu cầu vốn lưu động hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp tránh tình trạng thiếu hụt hoặc dư thừa vốn, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

3.2. Tối ưu hóa quản trị nợ phải thu và hàng tồn kho

Để cải thiện quản trị khoản phải thu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống đánh giá tín dụng khách hàng dựa trên lịch sử thanh toán, uy tín và khả năng tài chính. Áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán sớm sẽ khuyến khích khách hàng thanh toán đúng hạn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên triển khai hệ thống theo dõi công nợ tự động, cảnh báo sớm các khoản nợ quá hạn. Đối với hàng tồn kho, việc áp dụng phương pháp quản trị tồn kho theo mô hình EOQ (Economic Order Quantity) sẽ giúp tối ưu hóa số lượng đặt hàng và giảm chi phí lưu kho. Ngoài ra, doanh nghiệp cần thường xuyên kiểm kê tồn kho và loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, hư hỏng. Những biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro mất mát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho doanh nghiệp

Quản trị vốn lưu động là yếu tố quyết định đến sự ổn định tài chính và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại. Tại Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP, những hạn chế trong quản trị vốn lưu động đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính, khi tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động chỉ đạt 12%, thấp hơn mức kỳ vọng. Những tồn tại chủ yếu xuất phát từ việc thiếu kế hoạch vốn lưu động hợp lý, quản trị khoản phải thu và hàng tồn kho chưa hiệu quả. Để khắc phục, doanh nghiệp cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoạch định chiến lược đến cải tiến quy trình, bao gồm xây dựng kế hoạch vốn lưu động, tối ưu hóa quản trị khoản phải thu và hàng tồn kho, cũng như đầu tư vào hệ thống quản lý tài chính hiện đại. Những biện pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động mà còn góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp trong dài hạn.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã phân tích thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP dựa trên số liệu tài chính giai đoạn 2019-2021. Kết quả cho thấy vốn lưu động chiếm 45% tổng tài sản, cao hơn mức trung bình ngành, phản ánh sự dư thừa vốn trong khâu tồn kho và khoản phải thu. Tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động chỉ đạt 12%, thấp hơn mức kỳ vọng 18%, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa tối ưu. Những hạn chế chính bao gồm chính sách quản trị dòng tiền thiếu chặt chẽ, tỷ lệ nợ xấu cao 8%, và quy trình quản trị tồn kho chưa hiệu quả. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp cải thiện quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong giai đoạn tới, Công ty TNHH Thương mại Hoa Phúc Dương VP cần tập trung vào việc nâng cao năng lực quản trị vốn lưu động thông qua đầu tư vào công nghệ và quy trình vận hành. Doanh nghiệp nên triển khai hệ thống quản lý tài chính tự động (ERP) để tối ưu hóa theo dõi dòng tiền và cảnh báo sớm các rủi ro. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa nguồn vốn bằng cách sử dụng tín dụng ngắn hạn từ ngân hàng sẽ giúp giảm áp lực lên vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch vốn lưu động dựa trên dự báo nhu cầu chính xác và áp dụng phương pháp quản trị tồn kho Just-in-Time (JIT). Những định hướng này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tài chính, gia tăng khả năng cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững trong dài hạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Quản trị vốn lưu động tại công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại hoa phúc dương vp luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có ba yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Ba yếu tố đó được cụ thể thông qua các tài sản (nguyên vật liệu, nhà xưởng, máy móc,.) và nhân công.

Số vốn bằng tiền bỏ ra để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh. Dựa vào đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh vốn kinh doanh được doanh nghiệp chia thành vốn lưu động và vốn cố định. Với hai hình thái biểu hiện khác nhau: Nếu như vốn cố định dùng để đầu tư xây dựng, mua sắm các TSCĐ sử dụng trong kinh doanh. Thì vốn lưu động lại được sử dụng để mua sắm hình thành nên các tài sản lưu động như nguyên nhiên vật liệu dự trữ sản xuất, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán.

Căn cứ vào phạm vi sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp thường được chia thành hai bộ phận : + TSLĐ sản xuất : bao gồm các loại như nguyên liệu chính , vật liệu phụ, nhiên liệu , phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ sản xuất và các loại sản phẩm dở dang , bán thành phẩm đang trong quá trình sản xuất. + TSLĐ lưu thông : bao gồm các loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu thông như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ , các khoản phải thu , vốn bằng tiền. SV: Ngô Thị Thụy CQ55/11.10 Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính Trong quá trình kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra nhịp nhàng , liên tục. Để hình thành các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm cá tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Như vậy có thể nói : “Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn lưu động Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động là nguồn hình thành nên tài sản lưu động. Do đó VLĐ có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.

Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp được thể hiện qua sơ đồ sau: + Đối với doanh nghiệp sản xuất: T- H.H’- T' + Đối với doanh nghiệp thương mại: T- H- T' + Đối với các tổ chức tín dụng trung gian: T- T' Cụ thể đối với doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động từ vận động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển thành vật tư, hàng hóa dự trữ và cuối cùng khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm lại trở về hình thái ban đầu là vốn SV: Ngô Thị Thụy CQ55/11.10 Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính bằng tiền. Thứ hai, giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại toàn bộ khi thu được tiền bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Thứ ba, Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Quá trình vận động chuyển hóa của VLĐ diễn ra thường xuyên, liên tục và lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Trên cơ sở những đặc điểm nói trên, ta có thể nhận thấy rằng tại cùng một thời điểm vốn lưu động trong doanh nghiệp đều tồn tại ở nhiều hình thái biều hiện với những tính chất, vai trò khác nhau đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó đòi hỏi doanh nghiệp cần có biện pháp để quản trị vốn lưu động một cách hợp lý, đồng bộ và có tính liên thông chặt chẽ với nhau không chỉ ở tất cả các khâu kinh doanh mà còn là đối với từng thành phần vốn. Bên cạnh đó, với công tác quản trị vốn lưu động, doanh nghiệp cũng cần chú trọng áp dụng một số công cụ và chính sách cần thiết để qua đó có thể đẩy nhanh vòng quay vốn lưu động, rút ngắn thời gian kỳ luân chuyển vốn lưu động và đồng thời xây dựng cấu trúc nguồn vốn ngắn hạn phù hợp dành cho đầu tư TSLĐ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Phân loại vốn lưu động của DN Để quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phải phân loại VLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau, thông thường có một số cách phân loại sau đây: a)Theo hình thái biểu hiện của vốn SV: Ngô Thị Thụy CQ55/11.10 Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài chính Vốn lưu động chia thành 2 loại: vốn vật tư, hàng hóa và vốn bằng tiền và các khoản phải thu.

Cụ thể: - Vốn vật tư hàng hóa (vốn về hàng tồn kho): bao gồm vốn thành phẩm, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ, vốn về chi phí trả trước. Loại vốn vật tư hàng hóa có khả năng thanh khoản không chắc chắn, có thể gây ứ đọng lượng vốn lớn. - Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: + Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. + Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, khoản tạm ứng.

Đây là loại vốn có tính thanh khoản tương đối cao, dễ dàng được chuyển hóa thành tiền để doanh nghiệp có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau. Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư của doanh nghiệp. Mặt khác, với cách phân loại này sẽ giúp cho nhà quản lý nhận biết được vai trò, tác dụng của từng bộ phận cũng như kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện, từ đó có thể đưa ra các biện pháp phát huy chức năng các thành phần vốn trên cở sở sự định hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả. b)Theo vai trò của vốn đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vốn lưu động chia thành 3 loại: VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất, VLĐ trong khâu sản xuất và VLĐ trong khâu lưu thông.

Cụ thể: - Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận VLĐ để thành lập dữ trữ về vật tư, hàng hóa trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường. Bao gồm các khoản vốn nguyên vật liệu chính, vốn nguyên nhiên vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, động SV: Ngô Thị Thụy CQ55/11.10 Luận văn tốt nghiệp 9 Học viện Tài chính lực, vốn phụ tùng thay thế, vốn công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất. - Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là bộ phận VLĐ kể từ khi doanh nghiệp xuất vật tư vào sản xuất cho đến khi tạo ra sản phẩm. Bao gồm vốn bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, vốn chi phí trả trước ngắn hạn.

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: là bộ phận VLĐ kể từ khi thành phẩm nhập kho, xuất bán đến khi thu tiền về. Bao gồm các khoản vốn thành phẩm,vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn. Cách phân loại này cho vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, qua đó sẽ giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn ở doanh nghiệp được chính xác và phù hợp. Đây cũng là cơ sở nền tảng quan trọng để doanh nghiệp đưa ra giải pháp quản lý vốn hiệu quả cũng như quyết định lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý đảm bảo sự cân đối về năng lực giữa các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và góp phần làm tăng tốc độ luân chuyển vốn.

c) Phân loại thông qua quan hệ sở hữu về vốn Với cách phân loại này có thể chia vốn lưu động thành 2 loại: - Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của chính doanh nghiệp, được doanh nghiệp quyết định sử dụng và định đoạt toàn quyền.Tùy theo loại hình doanh nghiệp mà nguồn vốn chủ sở hữu có nhiều hình thái khác nhau: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra; vốn do cổ đông đóng góp trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp… - Nợ phải trả: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ khoản vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; khoản vay thông qua phát hành trái phiếu hoặc các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. SV: Ngô Thị Thụy CQ55/11.10 Luận văn tốt nghiệp 10 Học viện Tài chính Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định. Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động được hình thành bằng vốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quy định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn.

d) Phân loại theo nguồn hình thành - Nguồn vốn điều lệ - Nguồn vốn tự bổ sung - Nguồn vốn đi vay - Nguồn vốn liên doanh, liên kết - Nguồn vốn chiếm dụng Thông qua sự phân loại vốn lưu động, doanh nghiệp có thể hình thành được một kết cấu vốn lưu động phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Từ đó doanh nghiệp sẽ xác định được trọng tâm quản lý và có những biện pháp quản trị cần thiết đối với từng bộ phận kết cấu vốn lưu động mà doanh nghiệp sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ