Luận văn tốt nghiệp: Quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh - Học viện Tài chính

Nghiên cứu chuyên sâu về quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh. Phân tích thực trạng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động trong

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh

Quản trị vốn lưu động là hoạt động tài chính cốt lõi, đảm bảo doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục. Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh là đơn vị chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Quá trình hình thành và phát triển của công ty gắn liền với sự tăng trưởng của thị trường xây dựng địa phương. Vốn lưu động tại doanh nghiệp bao gồm các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho và các khoản phải thu. Quản trị hiệu quả nguồn vốn này giúp công ty tối ưu hóa vòng quay vốn, giảm chi phí cơ hội và tăng khả năng thanh toán ngắn hạn. Đặc thù kinh doanh vật liệu xây dựng đòi hỏi mức vốn lưu động lớn do chu kỳ kinh doanh kéo dài và tính mùa vụ cao. Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh cần xây dựng chiến lược quản trị vốn lưu động phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh thực tế.

1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động tại doanh nghiệp

Vốn lưu động là tổng giá trị tài sản ngắn hạn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các bộ phận cấu thành gồm tiền và tương đương tiền, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu khách hàng và hàng tồn kho. Đặc điểm nổi bật của vốn lưu động là tính luân chuyển liên tục qua các chu kỳ kinh doanh. Tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh, vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản do đặc thù kinh doanh vật liệu xây dựng. Hàng tồn kho đa dạng về chủng loại, khối lượng lớn làm tăng nhu cầu vốn lưu động. Các khoản phải thu phát sinh thường xuyên từ hoạt động bán chịu cho khách hàng xây dựng.

1.2. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp

Nguồn vốn lưu động gồm hai nhóm chính là nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn nợ ngắn hạn. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp của các thành viên, lợi nhuận để lại và các quỹ dự phòng. Nguồn vốn nợ ngắn hạn bao gồm vay ngân hàng, nợ phải trả nhà cung cấp và các khoản phải trả khác. Tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh, nguồn vốn lưu động chủ yếu từ vốn góp ban đầu, lợi nhuận tích lũy và tín dụng thương mại từ nhà cung cấp. Việc đa dạng hóa nguồn vốn giúp công ty giảm rủi ro thanh khoản và tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn.

II. Phân tích thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh

Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh cho thấy nhiều kết quả đạt được song vẫn tồn tại không ít hạn chế. Công ty đã tổ chức bộ phận kế toán tài chính theo dõi biến động vốn lưu động hàng ngày. Tình hình phân bổ vốn lưu động giữa các bộ phận tương đối hợp lý, đảm bảo nguồn lực cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, công tác xác định nhu cầu vốn lưu động còn mang tính ước lượng, chưa áp dụng phương pháp tính toán khoa học. Quản trị tiền mặt chưa tối ưu, tồn tại tình trạng thừa hoặc thiếu tiền cục bộ trong từng thời kỳ. Nợ phải thu khách hàng có xu hướng tăng, thời gian thu hồi nợ kéo dài ảnh hưởng đến dòng tiền hoạt động. Hàng tồn kho ở mức cao, đặc biệt vào mùa thấp điểm xây dựng, gây áp lực lên chi phí lưu kho và khả năng thanh toán ngắn hạn. Hiệu suất luân chuyển vốn lưu động chưa đạt mức tối ưu, cần được cải thiện.

2.1. Thực trạng phân bổ và sử dụng vốn lưu động

Phân tích cơ cấu vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh cho thấy hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản ngắn hạn. Tiền mặt và tương đương tiền duy trì ở mức vừa phải, phục vụ nhu cầu thanh toán hàng ngày. Các khoản phải thu khách hàng tập trung chủ yếu ở nhóm khách hàng xây dựng lớn, thời gian thu hồi trung bình từ 30 đến 60 ngày. Công ty đã tổ chức theo dõi biến động vốn lưu động qua hệ thống kế toán. Tuy nhiên, việc phân bổ vốn giữa các bộ phận còn thiếu tính linh hoạt theo mùa vụ kinh doanh.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong quản trị vốn lưu động

III. Các giải pháp tăng cường quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh

Nhằm nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động, Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Giải pháp đầu tiên là xây dựng hệ thống xác định nhu cầu vốn lưu động dựa trên phương pháp trực tiếp và gián tiếp. Phương pháp trực tiếp tính toán dựa trên doanh số bán hàng bình quân, kỳ thu tiền trung bình và doanh số mua chịu. Phương pháp gián tiếp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm so với năm báo cáo, có xét đến tốc độ tăng trưởng kinh doanh. Giải pháp thứ hai là tăng cường quản trị tiền mặt thông qua việc xây dựng ngân quỹ hàng tuần và hàng tháng. Giải pháp thứ ba là siết chặt chính sách tín dụng, áp dụng chiết khấu thanh toán sớm để khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn. Giải pháp thứ tư là tối ưu hóa quản trị hàng tồn kho, áp dụng mô hình quản lý ABC để phân loại và kiểm soát hàng hóa hiệu quả. Các giải pháp này cần được triển khai có lộ trình và phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp.

3.1. Giải pháp quản trị từng bộ phận vốn lưu động

Đối với tiền mặt, công ty cần xây dựng mô hình Baumol hoặc Miller-Orr để xác định mức tiền mặt tối ưu. Áp dụng hệ thống quản lý dòng tiền tập trung giúp giảm chi phí cơ hội từ tiền nhàn rỗi. Đối với nợ phải thu, cần xây dựng chính sách tín dụng rõ ràng gồm tiêu chuẩn tín dụng, thời hạn tín dụng và chiết khấu thanh toán. Đối với hàng tồn kho, áp dụng mô hình EOQ để xác định lượng đặt hàng kinh tế, kết hợp phân loại ABC để ưu tiên quản lý nhóm hàng giá trị cao.

3.2. Giải pháp tổ chức nguồn vốn lưu động hiệu quả

IV. Kết luận và khuyến nghị ứng dụng thực tiễn về quản trị vốn lưu động

Quản trị vốn lưu động hiệu quả là yếu tố then chốt đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nghiên cứu thực trạng tại Công ty TNHH Cotto Quảng Ninh cho thấy công ty đã có nền tảng quản trị tài chính cơ bản song vẫn cần nhiều cải thiện. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc xác định chính xác nhu cầu vốn, tối ưu hóa quản trị từng bộ phận vốn lưu động và đa dạng hóa nguồn vốn. Việc áp dụng phương pháp tính toán khoa học như mô hình Baumol, Miller-Orr, EOQ sẽ giúp công ty ra quyết định tài chính chính xác hơn. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu nằm ở việc cung cấp cho ban lãnh đạo công ty công cụ và phương pháp quản trị vốn lưu động toàn diện. Đây cũng là tài liệu tham khảo giá trị cho các doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và các vùng lân cận.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.2. Định hướng phát triển và áp dụng giải pháp

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Quản trị vốn lưu động tại công ty trách nhiệm hữu hạn cotto quảng ninh luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại công ty TNHH Cotto Quảng Ninh thời gian qua Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại công ty TNHH Cotto Quảng Ninh Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do trình độ lý luận và nhận thức có hạn nên SV: Ngô Thanh Thủy 4 Lớp: CQ55/11.07 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp đề tài nghiên cứu này sẽ không tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn, ban lãnh đạo công ty TNHH Cotto Quảng Ninh và các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn Giảng viên hướng dẫn ThS. Bùi Thu hà, Ban lãnh đạo công ty TNHH Cotto Quảng Ninh cùng các anh chị cán bộ chuyên viên phòng Kế toán - Tài chính của công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này.

Hà Nội, Ngày 10 tháng 5 năm 2020 Sinh viên thực hiện Ngô Thanh Thủy SV: Ngô Thanh Thủy 5 Lớp: CQ55/11.07 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn lƣu động và nguồn hình thành vốn lƣu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lƣu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động Để tiến hành hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng vận động, chuyển đổi hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng trở về hình thái vốn tiền tệ.

Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm lại phụ thuộc lớn vào các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành nghề kinh doanh, vào trình độ tổ chức kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trên cơ sở nền tảng của quá trình tuần hoàn chu chuyển này, đặc điểm luân chuyển vốn cũng đã trở thành yếu tố có ý nghĩa đặc biệt được sử dụng để phân loại vốn kinh doanh. Căn cứ vào tiêu thức này, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được phân chia thành hai bộ phận là vốn cố định và vốn lưu động.

Vốn cố định được sử dụng để xây dựng hoặc trang bị các tài sản cố định trong khi vốn lưu động lại là số vốn SV: Ngô Thanh Thủy 6 Lớp: CQ55/11.07 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp tiền tệ ứng trước để mua sắm, hình thành các tài sản lưu động như nguyên vật liệu dự trữ , sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán. Cách phân loại này sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp có biện pháp tổ chức quản lý, phân bổ sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp và hiệu quả. Bên cạnh tài sản cố định, để quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể vận hành và duy trì một cách bình thường, liên tục thì cũng cần có các tài sản lưu động. Phạm vi sử dụng tài sản trải rộng và bao quát trong toàn bộ các công đoạn của quy trình và thường được chia thành hai bộ phận: tài sản lưu động và tài sản lưu động lưu thông.

Tài sản lưu động bao gồm các loại như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ và các loại sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu thông như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền. Trong quá trình kinh doanh, tài sản lưu động và tài sản lưu động lưu thông không ngừng vận động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình này diễn ra nhịp nhàng, liên tục, do đó giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Và để hình thành các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Như vậy, trên cơ sở tổng hợp sự phân tích ở trên, ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về vốn lưu động như sau: “Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp. SV: Ngô Thanh Thủy 7 Lớp: CQ55/11.07 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp 1. Đặc điểm của vốn lưu động Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh.

Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình tuần hoàn luân chuyển. Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.

Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Phân loại vốn lƣu động của DN Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu quản lý 1. Căn cứ vai trò của vốn lưu động trong quá trình kinh doanh Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được phân thành 3 loại: (1) Vốn lưu động trong khâu dự trữ Bao gồm các khoản vốn sau: - Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ mà khi tham gia vào chúng cấu thành thực thể của sản phẩm. - Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong.

Các loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc SV: Ngô Thanh Thủy 8 Lớp: CQ55/11.07 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp tạo điều kiện cho quá trình sản phẩm thực hiện được bình thường, thuận lợi. - Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động kinh doanh. - Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa các tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh. - Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá trình nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.

- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định, dùng cho hoạt động kinh doanh. Loại vốn này cần thiết để đảm bảo của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. (2) Vốn lưu động trong khâu sản xuất Bao gồm các khoản vốn: - Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình. - Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị các chi phí kinh doanh bỏ ra khi sản phẩm đã trải qua những công đoạn nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng (thành phẩm).

- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản. Loại vốn này được dùng cho quá trình , đảm bảo cho quá trình của các bộ SV: Ngô Thanh Thủy 9 Lớp: CQ55/11.07 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp phận trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp lý. (3) Vốn lưu động trong khâu lưu thông Loại này bao gồm các khoản vốn: - Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho. - Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.

Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định. - Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn. Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh toán (do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư), mặt khác tận dụng khả năng sinh lời của các tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

- Các khoản vốn trong thanh toán: các khoản phải thu, các khoản tạm ứng. Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của khách hàng, thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau. Khoản mục vốn này liên quan chặt chẽ đến chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một trong những chiến lược quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ