Luận văn quản trị vốn kinh doanh tại công ty xây dựng Thành Hải

Quản trị vốn kinh doanh hiệu quả tại công ty phát triển xây dựng Thành Hải. Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp phân tích tình hình và đề

Trường đại học

Học Viện Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị vốn kinh doanh tại công ty xây dựng

Quản trị vốn kinh doanh là hoạt động then chốt đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp, đặc biệt trong ngành xây dựng. Vốn kinh doanh bao gồm toàn bộ giá trị tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Quản trị vốn kinh doanh là quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát việc hình thành, sử dụng vốn một cách hiệu quả. Mục tiêu chính là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và đảm bảo khả năng thanh toán. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm vòng quay hàng tồn kho, kỳ luân chuyển vốn lưu động và khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn bao gồm cả yếu tố chủ quan như năng lực quản trị và khách quan như chính sách kinh tế thị trường.

1.1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh là toàn bộ giá trị tiền tệ mà doanh nghiệp sử dụng để hình thành các loại tài sản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc trưng nổi bật là tính luân chuyển liên tục, biến đổi hình thái từ tiền sang hàng hóa rồi quay lại tiền. Vốn kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong ngành xây dựng, vốn thường có chu kỳ dài, gắn liền với tiến độ dự án và tính mùa vụ.

1.2. Phân loại và nguồn hình thành vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh được phân loại theo nhiều tiêu chí. Theo thời gian sử dụng, gồm vốn cố định và vốn lưu động. Theo nguồn hình thành, gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ. Nguồn hình thành vốn chủ yếu từ vốn góp của chủ sở hữu, lợi nhuận để lại và các khoản vay. Việc cân đối giữa các nguồn vốn này quyết định cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng.

II. Phân tích thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại công ty xây dựng

Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại các công ty xây dựng, điển hình như Công ty CP Phát triển Xây dựng Thành Hải, cho thấy nhiều kết quả tích cực song vẫn tồn tại hạn chế. Công ty đã huy động và sử dụng vốn tương đối hiệu quả, đảm bảo thanh toán ngắn hạn. Tuy nhiên, cơ cấu vốn lưu động còn mất cân đối, thời gian thu hồi công nợ kéo dài. Hàng tồn kho (vật liệu, dở dang) chiếm tỷ trọng lớn, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn. Các nguyên nhân chính bao gồm: quy trình quản lý chưa chặt chẽ, thiếu hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả và phụ thuộc lớn vào tiến độ thanh toán của chủ đầu tư.

2.1. Kết quả đạt được trong quản trị vốn kinh doanh

Công ty đã khai thác tốt các nguồn vốn, đặc biệt là vốn vay và vốn ứng trước của khách hàng để tài trợ cho hoạt động sản xuất. Tình hình tài chính cơ bản ổn định, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Việc quản lý vốn cố định, như máy móc thiết bị thi công, được thực hiện có kế hoạch, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Hệ thống kế toán tài chính cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho công tác quản trị.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản trị vốn kinh doanh

Hạn chế lớn nhất là vòng quay hàng tồn kho thấp, vốn bị ứ đọng trong các dự án dở dang. Công nợ phải thu khó đòi và có xu hướng tăng. Nguyên nhân do đặc thù ngành xây dựng có chu kỳ kinh doanh dài. Nội tại doanh nghiệp còn yếu trong khâu dự toán chi phí và kiểm soát vật tư. Cơ chế phối hợp giữa các bộ phận Phòng Kinh doanh, Phòng Kỹ thuật và Phòng Tài chính Kế toán chưa nhịp nhàng.

III. Giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại công ty xây dựng

Để tăng cường hiệu quả quản trị vốn kinh doanh, công ty xây dựng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước tiên là hoàn thiện quy trình quản lý hàng tồn kho bằng cách áp dụng mô hình đặt hàng kinh tế (EOQ) để tối ưu chi phí lưu kho và đặt hàng. Tiếp theo, cần xây dựng chính sách tín dụng và thu hồi công nợ chặt chẽ hơn. Công ty cũng phải tăng cường công tác dự báo dòng tiền và lập ngân sách chi tiết cho từng dự án. Cuối cùng, đầu tư vào hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) để tích hợp thông tin, nâng cao khả năng ra quyết định.

3.1. Áp dụng mô hình đặt hàng kinh tế EOQ

Mô hình EOQ giúp xác định lượng đặt hàng vật tư, vật liệu sao cho tổng chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng là thấp nhất. Công thức tính dựa trên nhu cầu hàng năm, chi phí đặt mỗi lần và chi phí lưu giữ một đơn vị hàng hóa. Áp dụng EOQ giúp giảm lượng tồn kho bình quân, giải phóng vốn lưu động bị ứ đọng. Đây là công cụ hiệu quả để tối ưu hóa quản trị vốn trong khâu cung ứng vật liệu.

3.2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và quy trình quản trị vốn

Bộ máy tổ chức cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Giám đốc, Phó Giám đốc, Phòng Kinh doanh và Phòng Tài chính Kế toán. Phòng Kinh doanh phải chịu trách nhiệm thu thập thông tin thị trường và quản lý hợp đồng. Phòng Tài chính Kế toán tham mưu về huy động và sử dụng vốn. Cần xây dựng quy trình phê duyệt chi tiêu, theo dõi dòng tiền và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo từng dự án một cách minh bạch.

IV. Kết luận và ứng dụng quản trị vốn kinh doanh trong xây dựng

Quản trị vốn kinh doanh là hoạt động sống còn, tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty xây dựng. Qua phân tích thực trạng tại Công ty CP Phát triển Xây dựng Thành Hải, bài viết chỉ ra rằng việc quản trị tốt vốn lưu động, đặc biệt là hàng tồn kho và công nợ, sẽ cải thiện đáng kể sức khỏe tài chính. Các giải pháp đề xuất không chỉ mang tính lý thuyết mà có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn điều hành doanh nghiệp. Quản trị vốn hiệu quả giúp doanh nghiệp chủ động nguồn lực, giảm rủi ro và nắm bắt cơ hội đầu tư mới trên thị trường.

4.1. Tầm quan trọng của quản trị vốn kinh doanh

Quản trị vốn kinh doanh hiệu quả giúp doanh nghiệp xây dựng duy trì hoạt động liên tục, tránh nguy cơ đứt gãy dòng tiền. Nó cho phép doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán, đầu tư máy móc hiện đại và mở rộng quy mô. Đặc biệt trong ngành xây dựng, vốn là yếu tố quyết định khả năng trúng thầu và triển khai dự án. Quản trị tốt tạo nền tảng tài chính vững chắc cho sự phát triển bền vững.

4.2. Hướng đi cho doanh nghiệp xây dựng

Doanh nghiệp xây dựng cần chuyển đổi tư duy từ quản lý tài chính đơn thuần sang quản trị vốn chiến lược. Cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dòng tiền và hàng tồn kho. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp coi tiết kiệm và sử dụng vốn hiệu quả là trách nhiệm của mọi nhân viên. Đồng thời, chủ động đa dạng hóa nguồn vốn, giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng để giảm áp lực tài chính và chi phí.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Quản trị vốn kinh doanh tại công ty phát triển xây dựng thành hải luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I:LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh 1.Khái niệm vốn kinh doanh Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [1,449]. Nói cách khác đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiền quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.

Để tổ chức, quản lý, sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả thì trước tiên phải hiểu rõ vốn kinh doanh và các đặc trưng của vốn kinh doanh. Đặc trưng của vốn kinh doanh Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưng của vốn kinh doanh: SV: Nguyễn Thị Ngọc Hương 5 Lớp CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Vốn là biểu hiện bằng tiền của các tài sản nhất định. Điều này có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như: nhà cửa, đất đai, máy móc, thiết bị, thông tin, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sang chế,… Vốn luôn vận động gắn liền với chủ sở hữu và phải được quản lý chặt chẽ. Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà người sở hữu vốn có đồng thời là người sử dụng vốn hay không.

Tuy nhiên, trong trường hợp nào thì vốn cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định và có chi phí sử dụng vốn khác nhau. Việc quyết định xử vốn như thế nào liên quan tới lợi ích sát sườn của mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Vốn có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hoá khác.

Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời. Tuy nhiên vốn lại khác những hàng hoá khác ở chỗ quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn có thể gắn với nhau nhưng cũng có thể tách rời nhau. Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Nghĩa là để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều cần phải có một lượng vốn tối thiểu nhất định.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn sẵn có mà còn phải tìm cách thu hút vốn, huy động thêm vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp có cơ hội tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu đồng thời cũng giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro trong kinh doanh. Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện nền kinh tế có sự biến động như hiện nay thì do ảnh hưởng của các nhân tố như chi phí cơ hội của đồng tiền, giá cả, lạm phát … đã làm cho cùng một đồng tiền tại các thời điểm khác nhau thì sẽ có các giá trị khác nhau. Do vậy khi tính toán so sánh giá trị đồng vốn thì phải đưa về cùng một thời điểm để so sánh.

SV: Nguyễn Thị Ngọc Hương 6 Lớp CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Khi đã đủ về lượng, vốn kinh doanh cần luôn phải vận động để sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để trở thành vốn thì tiền phải được vận động sinh lời. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng vận động, chuyển đổi hình thái biểu hiện.

Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành kinh doanh, vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Đó là nguyên tắc của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Nhận thức đúng đắn những đặc điểm trên của vốn kinh doanh là những vấn đề rất cơ bản để các doanh nghiệp huy động, quản lý sử dụng vốn kinh doanh của mình một cách tiết kiệm, hiệu quả. Phân loại vốn kinh doanh Dựa theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn lưu động và vốn cố định 1.Vốn cố định Vốn cố định (VCĐ) là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản cố định (TSCĐ) dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [1,452+453]. Nói cách khác, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các tài sản cố định trong doanh nghiệp. Do vậy quy mô VCĐ doanh nghiệp lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô và tính đồng bộ của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh SV: Nguyễn Thị Ngọc Hương 7 Lớp CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính nghiệp, đồng thời số vốn này cần phải được thu hồi đầy đủ nhằm đảm bảo quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

* Những đặc điểm luân chuyển vốn cố định: Do TSCĐ của doanh nghiệp được sử dụng trong nhiều năm, tuy hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu không đổi nhưng giá trị của nó thì lại bị hao mòn và được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra nên VCĐ có những đặc điểm sau: - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. - Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn cố định được luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm. Phần giá trị luân chuyển này của vốn cố định được phản ánh dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ của doanh nghiệp. - Sau nhiều chu kỳ kinh doanh VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển.

Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn, giá trị TSCĐ dưới hình thức khấu hao chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm. Theo đó VCĐ cũng được chia làm 2 phần: Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ; phần còn lại của VCĐ được cố định trong TSCĐ. Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo nếu như phần vốn cố định đã luân chuyển được dần tăng lên thì phần vốn cố định đầu tư ban đầu sẽ dần giảm đi tương ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng TSCĐ. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của TSCĐ được thu hồi toàn bộ dưới hình thức khấu hao tính vào giá trị sản phẩm thì VCĐ cũng đã hoàn thành một vòng chu chuyển.

Như vậy, VCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ VKD. Quy mô và trình độ quản lý sử dụng VCĐ là nhân tố quyết định đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp. Do ở một vị SV: Nguyễn Thị Ngọc Hương 8 Lớp CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng, nên việc quản lý VCĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp. Vốn lưu động Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài TSDH (trọng tâm chính là TSCĐ) các doanh nghiệp còn cần có các TSNH.

Trong quá trình kinh doanh, các TSNH luôn vận động, chuyển hóa không ngừng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra nhịp nhàng, liên tục. Và doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này được gọi là VLĐ của doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói: “VLĐ là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSNH thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” [1,465]. Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do VLĐ là biểu hiện bằng tiền của TSNH nên đặc điểm vận động của TSNH quyết định đến đặc điểm luân chuyển của VLĐ.

Cụ thể như sau: - VLĐ trong quá trình luân chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện: Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hóa dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền. - VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất và được bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. - VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Như vậy, tại một thời điểm nhất định VLĐ của doanh nghiệp được phân bổ ở khắp các giai đoạn của quá trình kinh doanh và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua.

Do đó, muốn quá trình tái sản xuất được liên tục doanh nghiệp phải có đủ VLĐ đầu tư vào các hình SV: Nguyễn Thị Ngọc Hương 9 Lớp CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính thái khác nhau đó đảm bảo cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ