Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận cơ bản về quản trị tri thức gắn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản trị tri thức gắn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần vận tải xăng dầu VIPCO. Chương 4: Các đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị tri thức gắn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần vận tải xăng dầu VIPCO.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngày nay cả giới học thuật lẫn giới kinh doanh đều nhất trí rằng để sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh, vấn đề không chỉ là quy mô và phạm vi; mà đòi hỏi phải có sự đổi mới (innovation) liên tục và mạnh mẽ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc quản lý các tài sản vô hình (intangible asset) cũng nhƣ những tri thức kinh doanh và kỹ thuật là vấn đề then chốt, để thành công trong thị trƣờng toàn cầu mang tính mở, cạnh tranh cao và nhiều thay đổi. Lý thuyết của nhóm tác giả cuốn sách “Quản trị dựa vào tri thức”, đứng đầu là Giáo sƣ Ikujiro Nonaka mà luận văn đang sử dụng chủ yếu, song hành với quan điểm về quá trình của doanh nghiệp, xuất phát từ triết học về quá trình (process philosophy) của Alfred North Whitehead.
Lý thuyết này nhận ra bản chất luôn biến động, có tƣơng quan với nhau của quá trình sáng tạo tri thức. Điều này trái với quan điểm truyền thống cho rằng tri thức là vật chất độc lập và xem doanh nghiệp là một cỗ máy xử lý thông tin tĩnh: lấy thông tin từ môi trƣờng vào, xử lý, và đặt những mục tiêu đầu ra để thích nghi với môi trƣờng. Theo triết học về quá trình, tri thức không phải là vật chất hay sự vật tĩnh tại, mà là một quá trình (process) luôn thay đổi trong tƣơng tác của một phạm vi các mối quan hệ luôn mở rộng. Vì vậy, để hiểu đƣợc tri thức, chúng ta phải xét đến quá trình con ngƣời tƣơng tác và thay đổi.
Lý thuyết của Nonaka xem tri thức là một quá trình năng động, xem doanh nghiệp là một chủ thể biện chứng trong các mối quan hệ chủ động với môi trƣờng. Sự tồn tại của tri thức và của doanh nghiệp không độc lập với môi trƣờng mà nằm trong môi trƣờng, trong mối quan hệ với các đối tƣợng khác, xuất hiện trong tƣơng tác với đối tƣợng khác và định hình lại bản thân và đối tƣợng khác cùng với môi trƣờng thông qua những tƣơng tác đó. Lý thuyết sáng tạo tri thức dựa trên quan điểm xem thế giới với mọi vật trong đó là một “dòng chảy” (flow) liên tục. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nonaka cho rằng: “Những nguyên tắc quản lý truyền thống không còn thích hợp cho quản lý tri thức và nên đƣợc điều chỉnh, để những năng lực dựa trên tri thức (knowledge-based capability) của công ty có thể đƣợc quản lý một cách hiệu quả.
Các ý niệm truyền thống về chiến lƣợc, quản lý nhân lực, tài chính, và tiếp thị cũng nên đƣợc xem xét lại và điều chỉnh, nhằm quản lý những tri thức phục vụ cho lợi thế cạnh tranh”. “Quản trị tri thức” (knowledge management - KM) có lẽ là lĩnh vực mới nhất trong quản trị nói chung, với lịch sử chỉ khoảng 10 năm trở lại đây mà thôi, nhƣng đã có những bƣớc tiến vũ bão, nhất là ở những công ty và những quốc gia phát triển chủ yếu dựa vào công nghệ /tri thức/ bí quyết… Và nhờ vào mô hình kinh tế và mô hình doanh nghiệp “dựa vào tri thức” này mà nhiều công ty và một số quốc gia đã, đang và sẽ tiếp tục dẫn đầu. Giáo sƣ Nonaka, một trong những ngƣời đi tiên phong trong lĩnh vực này, đƣợc giới quản trị xem là một “Peter Drucker mới” trong vai trò là một lý thuyết gia về quản trị. Năm 2005, ông là ngƣời châu Á duy nhất đƣợc nhật báo Phố Wall (Wall Street Journal) bầu chọn là “một trong 20 nhà tƣ tƣởng quản trị có ảnh hƣởng nhất thế giới”.
Sự nghiệp nghiên cứu và lý thuyết sáng tạo tri thức của ông đƣợc biết đến ở Mỹ và Châu Âu còn nhiều hơn là ở Nhật Bản, quê hƣơng của ông. Đƣợc chấp bút bởi học giả hàng đầu về “quản trị tri thức”, tài liệu “Quản trị dựa vào tri thức” của Nonaka mở rộng và bổ sung cho lý thuyết về quản trị tri thức hiện có, đồng thời cũng khảo sát việc quản lý tri thức nhƣ là một khái niệm toàn cầu và phù hợp với bất kỳ công ty nào muốn phát triển bền vững “dựa vào tri thức” trong môi trƣờng kinh doanh nhiều thay đổi. Cuối cùng, có thể nói, đây là tài liệu không-thể-không-đọc đối với các nhà quản trị và những ai quan tâm tới nền “kinh tế tri thức”, “công ty tri thức”, “nhân viên tri thức”, và đặc biệt đối với những ai muốn tìm hiểu về một mô hình doanh nghiệp của tƣơng lai. Quản trị tri thức là một khái niệm mới đang có nhiều tranh luận.
Tuy nhiên dù tranh luận thế nào thì bản chất Quản trị tri thức vẫn là một. Sự khác biệt chỉ là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách chúng ta tiếp cận nghiên cứu và ứng dụng. Nhìn từ tài liệu này chúng tôi thấy rõ đƣợc, tổng quan về các khái niệm về quản trị tri thức đang đƣợc các học giả trong và ngoài nƣớc sử dụng, từ đó đƣa ra khái niệm chung nhất mang tính ứng dụng và áp dụng vào quản trị nguồn nhân lực. Có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau tuỳ theo cách nhìn và phƣơng thức của mỗi cá nhân hay tổ chức.
Chúng bao gồm có quản lý, việc học hỏi của cá nhân và tổ chức, giao tiếp, công nghệ và các hệ thống thông tin, trí tuệ nhân tạo, tài sản tri thức,…Không có một định nghĩa hay một cách tiếp cận thống nhất về quản trị tri thức nào cả, nhƣng lại có những nội dung có thể bao quát toàn bộ. Quản trị tri thức mà chủ thể là con ngƣời, các cách thức và quá trình, các hoạt động, công nghệ và một môi trƣờng rộng hơn thúc đẩy việc định dạng, sáng tạo, giao tiếp hay chia sẻ và sử dụng các tri thức cá nhân cũng nhƣ tri thức của tổ chức. Nó là về những qui trình quản lý việc tạo ra, phát tán và sử dụng tri thức để đạt đƣợc mục tiêu tổ chức. Nó đòi hỏi sự kết hợp giữa nhận thức kinh doanh, thái độ và thực tiễn sáng tạo, những hệ thống, chính sách và những thủ tục đƣợc tạo ra để giải phóng sức mạnh của thông tin và ý tƣởng.
Trong cuốn sách “People-Focused Knowledge Management”, Karl M. Wiig định nghĩa: Quản trị tri thức là quá trình sáng tạo, phát triển và ứng dụng tri thức một cách có hệ thống và minh bạch nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động liên quan đến tri thức và giá trị doanh nghiệp từ tri thức và tài sản trí tuệ sẵn có. Quản trị tri thức nhằm đến các quá trình sáng tạo, nắm bắt, chuyển giao và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức. Quản trị tri thức đƣa tri thức ngầm lên bề mặt, tổng hợp chúng thành những dạng dễ dàng lƣu trữ và truy cập hơn, đồng thời thúc đẩy tính sáng tạo của nó.
(Birket) Quản trị tri thức là quá trình tạo mới, phân phối và sử dụng tri thức một cách hiệu quả. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Quản trị tri thức là quá trình có hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận, và chuyển tải những thông tin và tri thức mà con ngƣời có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh, và hoàn thiện” (Trung tâm Năng suất và Chất lƣợng Hoa Kỳ – Trích dẫn bởi Serban và Luan). Quản trị tri thức là một quá trình, quản trị tri thức nhƣ thế nào để có một nguồn nhân lực là một nguồn lực là công cụ quản lý hiệu quả nhằm chia sẻ, thu nhận, lƣu giữ, lựa chọn, sáng tạo, tạo ra sản phẩm là con ngƣời, đúng ngƣời, đúng nơi, đúng lúc nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của tổ chức. Cơ sở lý luận cơ bản về tri thức 1.1 Khái niệm về tri thức Hiện nay, trong hệ thống lý thuyết về tri thức có các quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm tri thức.
- “Tri thức là quá trình năng động của con ngƣời trong việc minh chứng các niềm tin cá nhân với những “ sự thật ”, Nonaka và Takeuchi (1995). - Tri thức đƣợc xem nhƣ là thông tin nằm trong bộ não của con ngƣời: là tập hợp của kinh nghiệm, giá trị, ngữ cảnh của thông tin và các kiến thức chuyên sâu giúp cho việc đánh giá và phối hợp để tạo nên các kinh nghiệm và thông tin mới bao gồm cả sự so sánh, kết quả, liên hệ, và giao tiếp (Davenport and Prusak, 1998; Davenport, 1999). - Bộ não con ngƣời chuyển đổi thông tin thành các tri thức có giá trị khi nó giúp con ngƣời hiểu các khái niệm và khung bằng cách trả lời cho các câu hỏi “thế nào?” and “tại sao?” (Stenmark, 2001; Quigley and Debons, 1999; Holsapple and Joshi, 1999). - Tri thức là nhận thức, là sự quen thuộc hay hiểu biết thu đƣợc qua nghiên cứu hoặc qua kinh nghiệm (Từ điển di sản Mỹ).
- Tri thức là việc sử dụng tối đa thông tin và dữ liệu kết hợp với tiềm năng con ngƣời về kỹ năng, trình độ, ý tƣởng, mức độ cam kết và động cơ làm việc. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn này chúng tôi lấy quan điểm của Nonaka và cộng sự làm lý luận chính để nghiên cứu. Lý thuyết này xem tri thức là một quá trình (process) và cho rằng tri thức “đƣợc tạo ra và sử dụng trong mối quan hệ với tri thức của những con ngƣời khác nhau tồn tại trong mối tƣơng quan với nhau”. Quan điểm của Nonaka cũng phù hợp với quan điểm của những nhà triết học về quá trình nhƣ Whitehead.
Đây chính là cơ sở lý luận để Nonaka và Takeuchi (1994) xây dựng mô hình SECI (Socialization – Externalization – Combination - Internalization), mô tả quá trình tƣơng tác liên tục giữa tri thức ẩn và tri thức hiện thông qua các giai đoạn xã hội hóa, ngoại hóa, kết hợp và tiếp thu để tạo ra tri thức mới trong tổ chức.