Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng Quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại công ty Cổ phần đầu tư thương mại và dịch vụ Tây Hồ giai đoạn 2007-2009. Chương 4: Các kết luận và đề xuất hoàn thiện Quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại công ty Cổ phần đầu tư thương mại và dịch vụ Tây Hồ 3 Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6 Luan van GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 2.
Khái quát chung về thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit) 2. Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng ( ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng ( người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất địnhcho một người thứ ba ( người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình tại ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản trong thư tín dụng. Các chủ thể tham gia và mối quan hệ giữa các chủ thể trong phương thức tín dụng chứng từ. Các chủ thể tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ.
- Người xin mở thư tín dụng ( Applicant): Là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của họ. Trong TMQT, người mở thường là người nhập khẩu, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm phát lý về việc ngân hang phát hành trả tiền cho người thụ hưởng L/C. - Người hưởng lợi L/C ( Beneficialy): Là bên hưởng lợi L/C được phát hành, nghĩa là được hưởng số tiền thanh toán khi sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán của L/C. - Ngân hàng phát hành thư tín dụng (Issusing Bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo yêu cầu của người mở.
NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán. Nếu không có sự thỏa thuận trước thì nhà NK được phép tự chọn NHPH. - Ngân hàng thông báo ( Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho người hưởng lợi theo yêu cầu của NHPH. NHTB thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước nhà NK.
- Ngân hàng xác nhận ( Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình đối với L/C theo yêu cầu hoặc theo sự uỷ quyền của NHPH. Ngân hàng xác nhận có thể là NHTB hay là một ngân hàng khác do người XK yêu cầu, thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng, tài chính quốc tế. - Ngân hàng chỉ định ( Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu, hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu L/C có giá trị tự do. - Ngân hàng thanh toán ( The Paying Bank): Có thể là NHPH hoặc có thể là một ngân hàng khác được NHPH chỉ định thay mình thanh toán tiền cho nhà XK hay chiết khấu hối phiếu.
4 Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6 Luan van GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp 2. Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ. Trong phương thức tín dụng chứng từ có ba mối quan hệ hợp đồng được tạo thành theo mô hình: Hình 2.1:Mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ. NHPH Đơn xin mở L/C L/C Hợp đồng thương mại Người mở L/C Người hưởng lợi - Thứ nhất: Quan hệ hợp đồng giữa người mua và người bán.
Được thực hiện bằng các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán, bao gồm các chi tiết liên quan đến số lượng, trọng lượng, chất lượng…Ngoài ra, trong hợp đồng mua bán còn có các điều khoản quy định về điều kiện thanh toán. Nếu người mua và người bán đồng ý chọn phương thức tín dụng chứng từ thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản trong hợp đồng. - Thứ hai: Quan hệ hợp đồng giữa người mua ( người làm đơn mở L/C) và ngân hàng phục vụ người mua ( NHPH). Mối quan hệ hợp đồng này được thể hiện bởi tất cả hoặc bất cứ một trong các loại hợp đồng sau đây giữa người mua và NHPH.
+ Các điều kiện và điều khoản quy định trong bất kỳ thủ tục nào được ký của người mua, trên cơ sở đó ngân hàng phát hành L/C trên danh nghĩa của người mua. + Các điều kiện và điều khoản chung được ký bởi người mua về biện pháp đảm bảo tín dụng, trong đó có khoản ký quỹ của người mua cho NHPH. + Các điều khoản và điều kiện thực hiện trong đơn xin mở L/C được ký bởi người mua gửi NHPH. - Thứ ba: Quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng người mua ( NHPH) và người hưởng lợi ( Người bán/ người XK).
Mối quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên, nhưng lại là một nghiệp vụ hợp đồng độc lập của NHPH L/C thực hiện cam kết của ngân hàng này đối với người bán và là cơ sở để thanh toán. Thực chất nghiệp vụ hợp đồng này là sự cam kết của NHPH đối với người bán rằng sẽ thanh toán, nếu người bán xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C. Cam kết thanh toán của NHPH là hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán và độc lập hoàn toàn với người mua và NHPH. Ngoài ra, cam kết của NHPH cũng hoàn toàn độc lập với bất kỳ hợp đồng cơ sơ nào có liên quan tới hàng hoá.
5 Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6 Luan van GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp 2. Quy trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ Hình 2.2 Quy trình nghiệp vụ trong giao dịch bằng L/C. NHPH (5) NHTB (2) (8) (7) (6) (1) (2) (3) (5) Người xin mở L/C (4) Người thụ hưởng (Nhà NK) (Nhà XK) Bước 1: Trên cơ sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà NK làm đơn theo mẫu gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu phát hành một L/C cho người Xk hưởng lợi. Bước 2: Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý NHPH lập L/C và thông qua đại lý của mình ở nước nhà XK để thông báo về việc phát hành L/C và chuyển L/C đến nhà XK.
Bước 3: NHTB sẽ chuyển L/C bản gốc tới cho nhà XK. Bước 4: Nếu nhà XK chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề nghị nhà NK thông qua NHPH sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương. Bước 5: Sau khi giao hàng, nhà XK phải hoàn tất bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C và xuất trình đúng thời hạn quy định cho NHPH để thanh toán. Bước 6: NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với L/C do mình phát hành thì tiến hành thanh toán cho nhà XK, nếu thấy không phù hợp, thì từ chối thanh toán và gửi trả bộ chứng từ cho nhà XK.
Bước 7: NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK. Bước 8: Nhà NK kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho NHPH, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền cho NHPH. Khái niệm: Thư tín dụng là một bức thư do NH viết ra theo yêu cầu của người NK ( người mở thư tín dụng), cam kết sẽ trả tiền cho người XK ( người hưởng lợi) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định, với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản trong thư tín dụng. Đặc điểm của thư tín dụng.
- L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hoá: Về bản chất, L/C là một giao 6 Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6 Luan van GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác , và hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C. Trong mọi trường hợp, NH không liên quan hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng này. Như vậy L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp thuận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C.
- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: Các NH chỉ dựa trên cơ sở chúng từ, kiểm tra việc xuất trình để xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp không? Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng cho việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hoá đã được giao, do đó chúng trở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà NK hoàn trả tiền cho NH, là chứng từ đi nhận hàng của nhà NK. Việc nhà NK có thu được tiền hay không phụ thuộc duy nhất vào việc xuất trình chứng từ có phù hợp, nghĩa là NH không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hoá mà bất kỳ chứng từ nào đại diện. Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì NH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà XK , mặc dù trên thực tế hàng hoá có thể được giao hoặc không được giao hoàn toàn đúng như trên chứng từ, nếu hàng hoá không khớp với chứng từ thì hai bên mua bán tự giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH.