MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại luôn tồn tại những rủi ro ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, cạnh tranh về chất lƣợng dịch vụ tăng cao nhƣ hiện nay. Các NHTM một mặt muốn gia tăng số lƣợng sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các đối tƣợng khách hàng, cạnh tranh giữa các ngân hàng, mặt khác gia tăng lợi nhuận, an toàn trong hoạt động kinh doanh. Do vậy, song song với việc đƣa ra các chiến lƣợc phát triển kinh doanh thì các NHTM luôn xây dựng cho mình chƣơng trình quản trị rủi ro, đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả.
Có nhiều cách phân loại rủi ro trong hoạt động NHTM song theo cách phân loại của Ủy ban Basel thì rủi ro đƣợc phân thành 3 loại: Rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng và rủi ro tác nghiệp. Hiện nay các NHTM tại Việt Nam đang dần tiếp cận với các khái niệm này và từng bƣớc xây dựng các chƣơng trình quản trị rủi ro phù hợp. Tốc độ gia tăng về khối lƣợng các giao dịch tại NHTM nhƣ hiện nay cùng với môi trƣờng kinh doanh khốc liệt, áp lực lớn các loại tội phạm ngày càng tinh vi, sự phụ thuộc vào công nghệ thông tin nhiều hơn, đạo đức nghề nghiệp chƣa đƣợc coi trọng làm cho RRTN ngày càng gia tăng. Điều này đòi hỏi công tác quản trị RRTN cần đƣợc các NHTM quan tâm và đầu tƣ thích đáng.
Xuất phát từ vấn đề này, học viên đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bắc Á” để làm luận văn nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Đề tài hƣớng đến mục tiêu là hoàn thiện và nâng cao về tổ chức của bộ máy QLRR và nội dung công tác quản trị RRTN tại Ngân hàng TMCP Bắc Á, cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị một cách đầy đủ, chính xác và chi tiết hơn, góp phần hƣớng đến thực hiện các chiến lƣợc và kế hoạch đặt ra của Ngân hàng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản trị RRTN tại NHTM. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng công tác quản trị RRTN tại Ngân hàng TMCP Bắc Á trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 và định hƣớng, giải pháp tăng cƣờng quản trị RRTN tại Ngân hàng TMCP Bắc Á trong những năm tới.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê mô tả, nghiên cứu tình huống, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Bố cục của luận văn Luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Quản trị rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bắc Á. - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bắc Á.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị RRTN là một vấn đề khá mới mẻ tại Việt Nam và các quy định, hƣớng dẫn về quản trị RRTN từ các cơ quan quản lý Nhà nƣớc còn hạn chế. Hiện tại có rất ít đề tài nghiên cứu về RRTN tại NHTM, nội dung nghiên cứu tập trung chủ yếu vào cơ sở lý luận cơ bản về RRTN, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện, nâng cao quản trị RRTN tại NHTM. Nghiên cứu công tác quản trị RRTN đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua các bƣớc: Nhận diện rủi ro, đánh giá rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro. Điểm mới của luận văn đó là tác giả đã nêu đƣợc vai trò của quản trị RRTN đối với hoạt động của NHTM, nghiên cứu các bƣớc quản trị RRTN tại NHTM theo hƣớng: Nhận diện rủi ro, đánh giá rủi ro, thiết lập các quy trình nghiệp vụ, kiểm soát quá trình thực hiện nghiệp vụ và tài trợ rủi ro.
Từ nghiên cứu cơ sở lý luận về quản trị RRTN theo hƣớng mới này, tác giả đã phân tích thực trạng và đánh giá những mặt tích cực, hạn chế trong quản trị RRTN, đề xuất giải pháp tăng cƣờng quản trị RRTN tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. 1 CHƢƠNG 1 QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại Hoạt động của các NHTM hiện nay nhƣ: Huy động vốn, cho vay, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán, đầu tƣ luôn tồn tại những rủi ro (rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trƣờng, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, RRTN, rủi ro ngoại hối).
Mỗi loại rủi ro có những đặc thù riêng song chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM. RRTN phát sinh do yếu tố con ngƣời, sự yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM, hệ thống CNTT, tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Theo Basel II: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con ngƣời và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. Rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro pháp lý nhƣng loại trừ rủi ro chiến lƣợc và rủi ro uy tín”.
RRTN xảy ra tại NHTM nhƣ việc cán bộ, nhân viên ngân hàng có sai sót, gian lận trong thực hiện các công việc hàng ngày. Chẳng hạn, nhân viên hạch toán nhầm số tiền VND thành USD thì bút toán ấy trở thành một tổn thất lớn và mất nhiều thời gian để khắc phục. Hay việc sử dụng chung tài khoản đăng nhập, mật khẩu của một số nhân viên hiện nay là dấu hiệu RRTN. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại RRTN xảy ra không chỉ gây tổn thất cho ngân hàng về vật chất và nguồn nhân lực mà còn có thể khiến uy tín của ngân hàng bị ảnh hƣởng.
RRTN liên quan đến tất cả các mặt hoạt động của NHTM, đặc biệt là yếu tố con ngƣời và các cấp thực thi. Quy trình nghiệp vụ thiếu chặt chẽ, hệ thống công nghệ chất lƣợng kém, vấn đề vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ nhân viên đều dẫn đến RRTN cho ngân hàng. RRTN tại NHTM xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chính dƣới đây: 2 Hình 1.1: Nguyên nhân dẫn đến RRTN tại NHTM Rủi ro tác nghiệp Do nội bộ NHTM Do bên ngoài NHTM qu Quy Hệ Cơ sở Yếu tố Nhân trình, thống Con vật khách viên quy công ngƣời chất quan định nghệ 1. Nguyên nhân từ nội bộ ngân hàng thương mại RRTN từ nội bộ NHTM bao gồm: Rủi ro từ nhân viên; quy định, quy trình nghiệp vụ của NHTM; rủi ro từ hệ thống CNTT và rủi ro từ các hệ thống hỗ trợ khác.
- Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng gây nên: Cán bộ nhân viên thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không đƣợc ủy quyền hoặc phê duyệt vƣợt quá thẩm quyền cho phép; không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng; không chấp hành nội quy cơ quan, hợp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với ngƣời lao động nơi công sở nhƣ an toàn lao động, thực hiện tiết kiệm chống lãng phí, phòng chống tham nhũng; có hành vi lừa đảo hoặc hành vi phạm tội, cấu kết với đối tƣợng bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng. RRTN xảy ra khi có hành vi gian lận, sai sót và lạm dụng của nhân viên ngân hàng. RRTN tăng lên khi nhân viên thực hiện nghiệp vụ mà không có sự phân quyền, không đƣợc kiểm soát phê duyệt một cách chặt chẽ. 3 RRTN xảy ra khi cơ chế phân chia trách nhiệm trong NHTM chƣa đƣợc chú trọng.
Mục đích của phân chia trách nhiệm là tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau ngay trong quá trình tác nghiệp, nhanh chóng phát hiện sai sót và giảm thiểu hành vi gian lận trong quá trình thực hiện. Việc phân chia trách nhiệm có thể bị vô hiệu hóa do sự thông đồng giữa các nhân viên. Chẳng hạn các cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng lập hồ sơ khống để vay vốn, các cán bộ thông đồng với nhau nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay mục đích nhận thù lao. - Rủi ro do các quy định, quy trình nghiệp vụ: Quy trình nghiệp vụ của NHTM có nhiều điểm còn hạn chế, chƣa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng; quy trình nghiệp vụ chƣa phù hợp gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong ngân hàng.
Cơ chế dễ dãi, kiểm soát thiếu chặt chẽ, chƣa lƣờng hết những rủi ro khi ban hành một quyết định, tạo cơ hội cho RRTN nảy sinh, phát triển: ngân hàng không quy định hạn mức phê duyệt giao dịch đối với giao dịch viên, nhân viên tín dụng, kiểm soát viên, Trƣởng phòng hay không có cơ chế kiểm tra chéo trong thực hiện giao dịch. - Nguyên nhân do hệ thống công nghệ thông tin: RRTN xảy ra do hệ thống CNTT của ngân hàng không hoạt động hiệu quả, chất lƣợng truyền dữ liệu kém, gián đoạn và vấn đề bảo mật không đƣợc chú trọng. Đối với phần mềm hạch toán kế toán của ngân hàng không đƣợc đầu tƣ kỹ thƣờng xảy ra những những sai sót nhƣ hạch toán không vào đúng tính chất của hệ thống tài khoản kế toán, tính lãi sai, không tự động cập nhật lãi suất vay, tiết kiệm khi có sự thay đổi. Những rủi ro này nếu không đƣợc phát hiện và xử lý kịp thời sẽ làm sai lệch báo cáo tài chính, gây mất lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng.
Ví dụ đối với trƣờng hợp rút tiền bằng thẻ, khách hàng rút tiền tại máy ATM, tiền không đƣợc trả ra nhƣng tài khoản khách hàng vẫn bị ghi nợ. - Nguyên nhân do hệ thống cơ sở vật chất: RRTN xảy ra do hệ thống cơ sở vật chất của NHTM không đảm bảo các vấn đề an toàn nhƣ: Bố trí quầy giao dịch không hợp lý, không đảm bảo an toàn cho bộ 4 phận ngân quỹ, kho tiền khi có trộm cƣớp, khủng bố; các thiết bị nhƣ camera, két sắt, thiết bị báo động không đƣợc đầu tƣ thích đáng. Tại một số NHTM, cán bộ nhân viên đã lợi dụng camera không hoạt động hoặc chất lƣợng hình ảnh kém để biển thủ tiền, thu chi sai tiền cho khách hàng.