phần mở đầu khái quát giới thiệu về đề tài nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về sử dụng nhân lực KHCN nữ tại đơn vị sự nghiệp công lập. Chƣơng 2: Thực trạng sử dụng nhân lực KHCN nữ tại Viện Hàn lâm KHCNVN. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng sử dụng nhân lực KHCN nữ tại Viện Hàn lâm KHCNVN. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NỮ TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực trong từng con ngƣời, bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực nó thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con ngƣời đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp chân tay. Nguồn lực phản ánh khả năng lao động của từng con ngƣời và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội.
Khái niệm nhân lực KHCN nữ Khái niệm nguồn nhân lực KHCN chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất. Tác giả Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức đƣa ra cách hiểu chung nhất về nhân lực KHCN là một bộ phận của lực lƣợng lao động xã hội đƣợc đào tạo ở những trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định và tham gia trực tiếp (hay gián tiếp) vào các hoạt động KHCN từ nghiên cứu, triển khai đến đào tạo, quản lý và vận hành các hệ thống công nghệ. Theo định nghĩa của UNESCO, nhân lực KHCN là tổng số những ngƣời trực tiếp tham gia hoạt động KHCN của một cơ quan, tổ chức và đƣợc trả tiền công cho sự tham gia đó. Những ngƣời này bao gồm các nhà khoa học và kỹ sƣ, kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ.
Năm 1995, tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề xuất phƣơng pháp luận đánh giá nhân lực KHCN theo nghĩa rộng, có thể hiểu nhân lực KHCN bao gồm cả những ngƣời đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhƣng không làm việc trong lĩnh vực KHCN. 8 Với các cách tìm hiểu về nhân lực KHCN nhƣ trên, chúng ta có thể định nghĩa “Nhân lực KHCN nữ là tập hợp những nhóm ngƣời là nữ tham gia vào các hoạt động KHCN với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, của sự phát triển sản xuất và xã hội”. Nhân lực KHCN nữ trong đơn vị sự nghiệp công lập còn đƣợc gọi là viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm Viên chức Căn cứ Điều 2, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 thì Viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010, Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc. Khái niệm sử dụng nhân lực KHCN nữ trong đơn vị sự nghiệp công lập Sử dụng nhân lực KHCN nữ trong đơn vị sự nghiệp công lập là quá trình khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của nhân lực KHCN nữ nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của khoa học và công nghệ của một tổ chức nói riêng, một quốc gia nói chung. Sử dụng nhân lực KHCN nữ đƣợc tính thời gian từ khi họ bắt đầu ký kết hợp đồng lao động đến khi hợp đồng hết hiệu lực hoặc bản thân họ đến tuổi nghỉ hƣu. Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài, tác giả nghiên cứu sử 9 dụng nhân lực với các nội dung sau: Bố trí, phân công công tác; Đào tạo; Quy hoạch, bổ nhiệm và bổ nhiệm lại; Đánh giá, xếp loại chất lƣợng; đãi ngộ, khen thƣởng, tôn vinh.
Cơ sở pháp lý về sử dụng nhân lực KHCN nữ trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Cơ sở pháp lý Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sử dụng nhân lực KHCN nữ trong đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Bộ Luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 của Quốc hội; - Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc hội; - Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; - Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18/6/2013 của Quốc hội. Trong đó có 1 chƣơng (Chƣơng III) quy định về chính sách sử dụng và đãi ngộ cá nhân hoạt động KHCN, nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nƣớc trong sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KHCN và đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài KHCN. - Luật Thi đua khen thƣởng số 47/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thƣởng, có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2005; Luật số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; Luật số 39/2013/QH13 ngày 16 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thƣởng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2014.
- Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 19/11/2006; 10 - Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 của Quốc hội; - Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về sử dụng, tuyển dụng và quản lý viên chức; - Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lƣợng CBCCVC; - Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hƣu; - Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KHCN. Với Nghị định này, lần đầu tiên nhà nƣớc có chính sách riêng dành cho đội ngũ nhân lực KHCN. Nghị định 40 đƣợc coi là bƣớc đột phá quan trọng trong chính sách trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực KHCN. Bên cạnh các quy định chung về ƣu đãi trong sử dụng nhân lực KHCN, Nghị định số 40 đã quy định chính sách trọng dụng về vật chất và điều kiện làm việc đối với 03 đối tƣợng nhân lực KHCN trình độ cao, gồm:Nhà khoa học đầu ngành, Nhà khoa học đƣợc giao chủ trì nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia đặc biệt quan trọng, Nhà khoa học trẻ tài năng.
- Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thƣởng; - Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về xử lý kỷ luật CBCCVC; - Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 31/3/2016 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bình đẳng giới đối với nữ CBCCVC giai đoạn 2016 - 2020; 11 - Công văn số 4842/BNV-TH ngày 13/10/2016 của Bộ Nội vụ về việc thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên giai đoạn 2016 – 2020. Căn cứ trên cơ sở các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc quy định việc trọng dụng nhân lực KHCN, Viện Hàn lâm KHCNVN cũng đã cụ thể hóa các chính sách của Nhà nƣớc để đƣa vào thực hiện trong toàn Viện. Đó là việc lồng ghép các nội dung nhằm sử dụng đƣợc nhân lực KHCN nói chung và nhân lực KHCN nữ nói riêng thông qua nội dung của các quy chế, quy định về tiêu chuẩn đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp; việc quy định về chế độ ƣu đãi đối với các nhà khoa học trẻ trong thực hiện các nhiệm vụ cấp cơ sở, nhiệm vụ độc lập; các chính sách khuyến khích công bố khoa học; chính sách tạo điều kiện về chỗ ở đối với nhà khoa học trẻ còn độc thân và rất nhiều văn bản hƣớng dẫn để cụ thể hóa việc triển khai thực hiện các chính sách sử dụng đối với nhân lực KHCN khi có những thành tích cao. Tất cả các văn bản, quy định trên đều dƣợc công khai đến tất cả các đơn vị và tất cả viên chức để có thể thực hiện dân chủ, công bằng, minh bạch đối với mọi đối tƣợng.
Nội dung sử dụng nhân lực KHCN nữ 1. Bố trí, phân công công tác Để việc sử dụng nhân lực mang lại hiệu quả cao nhất, cần có sự phân công, bố trí, sắp xếp nhân lực nói chung, nhân lực nữ nói riêng vào các vị trí và làm công việc một cách hợp lý. Nó thể hiện ở việc giao đúng ngƣời, đúng việc, theo vị trí việc làm, phù hợp với sở trƣờng của họ. Ở khía cạnh này, đội ngũ các nhà quản lý của đơn vị cần phải nắm bắt và căn cứ vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, điểm mạnh về tố chất, sở trƣờng của cá nhân để giao việc phù hợp nhằm phát huy tối đa khả năng của cá nhân và qua đó cũng giúp các cá nhân cống hiến đƣợc nhiều nhất.
Ngoài ra, việc bố trí công việc phù 12 hợp còn thể hiện ở việc giao cho các cá nhân có năng lực, trình độ những vị trí, chức vụ trong chuyên môn, quản lý để họ phát huy hết khả năng của mình đóng góp vào sự phát triển của tổ chức. Đào tạo Ngày nay khi KHCN đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặt cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, thì vai trò của phụ nữ trong sự phát triển KHCN lại càng đƣợc thể hiện rõ nét trong hàng loạt chủ trƣơng, chính sách của Đảng. Năm 2006, Luật Bình đẳng giới ra đời, tại Điều 15 đã nêu rõ vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ “nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ; nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khóa đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế”. Tại khoản 4, Điều 22, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã nêu “Nhà nƣớc khuyến khích đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực nữ trong hoạt động khoa học và công nghệ”.