Chương 1, nhóm nghiên cứu đã tập trung giới thiệu tính cấp thiết về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và cấu trúc của nghiên cứu. Sau phần giới thiệu này, nhóm nghiên cứu sẽ lần lượt đi vào nghiên cứu những nội dung cụ thể bao gồm: Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận và cuối cùng là Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận và khả năng phá sản của doanh nghiệp 2.
Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý 2. Khái niệm về quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận đóng vai trò quan trọng đối với DN vì nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của DN. Đây cũng là chỉ tiêu được các đối tượng sử dụng thông tin quan tâm nhiều nhất trên BCTC trước khi đưa ra các quyết định. Vì vậy, lợi nhuận sẽ được các nhà quản lý có xu hướng tác động nhiều nhất trên BCTC.
Nghiên cứu đầu tiên về chủ đề QTLN có nguồn gốc từ giữa thế kỷ 20 khi Hepworth (1953) tiến hành phân tích hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Tuy nhiên, định nghĩa nền tảng về QTLN đã không được thiết lập cho đến cuối những năm 90, khi Healy & Wahlen (1999) định nghĩa “QTLN xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng các phán đoán trong việc lập BCTC và cơ cấu các giao dịch để làm thay đổi BCTC nhằm đánh lừa một số bên liên quan về kết quả hoạt động DN. Hoặc làm tác động đến kết quả hợp đồng được báo cáo qua các số liệu thể hiện trên BCTC nhằm đạt được các lợi ích cá nhân”. Định nghĩa này sau đó đề cập đến việc thay đổi các BCTC để các nhà quản lý có thể che giấu thông tin, khiến cho thông tin trở nên không minh bạch, gây hiểu lầm và ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin.
Cũng dựa trên định nghĩa của Healy & Wahlen (1999), các tác giả sau này đã phát triển các định nghĩa mới theo hướng nghiên cứu của họ. Ví dụ, García-Lara & cộng sự (2005) thiết lập “QTLN là các phương pháp quản lý được tiến hành có chủ ý để báo cáo kết quả mong muốn chứ không phải kết quả thực”, trong khi Scott (2009) xác định “QTLN là việc lựa chọn các hành động có thể ảnh hưởng đến thu nhập để đạt được mục tiêu mong muốn”. Tóm lại, các khái niệm này đều hàm ý chung cho rằng QTLN mô tả hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý, từ đó làm thay đổi kết quả hoạt động của DN nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Các lý thuyết liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận Các nghiên cứu liên quan đến QTLN thường tập trung vào một số lý thuyết điển hình như sau: Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện chính thức được ra đời vào đầu những năm 1970, lý thuyết này đã đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó.
Nghiên cứu của Spence & Zeckhauser (1971) và Ross (1973) đã nói đến vấn đề thông tin không hoàn hảo trong những hợp đồng của ngành bảo hiểm và nó đã nhanh chóng trở thành một lý thuyết khái quát những vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện trong các lĩnh vực khác. Một số nhà nghiên cứu khác trong giai đoạn đầu của lý thuyết đại diện những năm 1970 là: Armen Alchian, Harold Demsetz, Michael Jensen, William Meckling và S. Lý thuyết đại diện được đề ra với mục đích chính là làm thế nào để người làm công (người đại diện) làm việc vì lợi ích cao nhất cho người chủ khi họ đang có lợi thế về thông tin và họ có những lợi ích khác với lợi ích của những người chủ. Lý thuyết này kết luận rằng hầu hết các thị trường đều có thông tin không hoàn hảo (không đầy đủ và không rõ ràng), từ đó sẽ xuất hiện hai vấn đề về đại diện là: lựa chọn bất lợi và mối nguy đạo đức.
Thứ nhất, lựa chọn bất lợi xảy ra khi người chủ không thể chắc chắn rằng liệu người đại diện có đủ khả năng đảm nhiệm các công việc mà họ đang được trả lương để làm hay không. Thứ hai, mối nguy đạo đức là trường hợp người chủ không chắc chắn người đại diện có nỗ lực tối đa cho công việc được giao hay không, hay liệu họ có trục lợi cá nhân khi họ là người biết rõ những thông tin mà không phải ông chủ nào cũng biết. Lý thuyết cơ hội Trong QTLN, hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận giúp cho những DN mới phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thu được nguồn vốn tài trợ từ thị trường vốn hay thu hút được những nhà đầu tư thường đưa ra quyết định dựa vào lợi nhuận và không nhận thấy được sự điều chỉnh trong lợi nhuận đã được công bố. Chính vì vậy, họ sẵn 6 sàng mua với mức giá chào bán cao hơn nhiều so với số liệu lợi nhuận báo cáo chưa được điều chỉnh theo chiều hướng tăng.
Rangan (1998) cho rằng, DN trước khi phát hành cổ phiếu trên thị trường thường dùng khoản dồn tích dương để tăng lợi nhuận cho DN, với mục đích tạm thời là thổi phồng giá cổ phiếu nhằm thu hút những nhà đầu tư trên thị trường - người mà luôn kỳ vọng có sự gia tăng trong lợi nhuận sau khi nắm giữ cổ phiếu. Và sau khi phát hành cổ phiếu thì sự sụt giảm nghiêm trọng trong lợi nhuận của DN sẽ xuất hiện bởi vì các khoản dồn tích DN giảm, từ đó dẫn đến sẽ làm cho những nhà đầu tư - người mà đánh giá cao DN tại thời điểm phát hành cổ phiếu thường cảm thấy thất vọng. Lý thuyết cơ hội đã đề cập đến hai vấn đề chính: Một là, nhà đầu tư không ý thức được các nhà quản lý đang thực hiện điều chỉnh BCTC. Hai là, nhà đầu tư không quan sát được hành vi bóp méo lợi nhuận của nhà quản lý.
Cả hai vấn đề này đều mâu thuẫn với lý thuyết thị trường hiệu quả, trong đó phát biểu rằng giá cổ phiếu phải phản ánh tất cả thông tin sẵn có trên thị trường (Fama, 1965). Lý thuyết bất cân xứng thông tin Khi sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi ích xảy ra, các nhà quản lý thường chọn cách bóp méo thông tin BCTC (Rajgopal & Venkatachalam, 2011). Do đó, các nhà quản lý luôn cố gắng thực hiện hành vi QTLN sao cho vừa phù hợp với kỳ vọng của chủ sở hữu vừa đáp ứng mục tiêu là duy trì vị trí công việc và lợi thế trong DN. Khi đó chất lượng BCTC giảm xuống và dẫn đến chất lượng lợi nhuận cũng giảm theo (Habib & Azim, 2008).
Một số nghiên cứu cho rằng việc giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng sẽ làm giảm ràng buộc tài chính của DN và từ đó làm cải thiện chất lượng lợi nhuận (Thomas & Vyas, 2013). Lý thuyết thông tin bất cân xứng góp phần để chứng minh giữa tính minh bạch và hành vi QTLN. Bởi vì khi người cung cấp thông tin không có vấn đề gì phải che giấu, hay không thực hiện hành vi QTLN thì khả năng thông tin sẽ đạt được sự minh bạch. 7 Từ những lý thuyết nền tảng này, bài nghiên cứu sẽ tiếp tục tìm hiểu các phương pháp cũng như mô hình đo lường hành vi QTLN.
Phương pháp đo lường hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp Khi nói đến QTLN, hai cách thức chính thường được các nhà quản lý sử dụng là: QTLN trên cơ sở dồn tích (Accrual Earnings Management) và QTLN thực tế (Real Earnings Management). Trong đó, việc đo lường QTLN trên cơ sở dồn tích được đa số các nhà nghiên cứu quan tâm. Đo lường hành vi quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích Đầu tiên, cơ sở dồn tích nghĩa là các giao dịch được ghi nhận số liệu tại thời điểm phát sinh chứ không phải tại thời điểm chi hoặc thu tiền. Dựa trên quan điểm của Gordon (1964), QTLN trên cơ sở dồn tích là hành vi điều chỉnh lợi nhuận một cách linh hoạt thông qua việc lựa chọn các chính sách đã được chấp thuận theo quy định để điều chỉnh BCTC.
Nghiên cứu của Healy & Wahlen (1998) cũng cho biết, các khoản dồn tích thể hiện hiệu quả hoạt động thực tế của một DN đồng thời có thể được sử dụng để QTLN. Số liệu các khoản thu nhập được báo cáo có thể bị thao túng khi các nhà quản lý thay đổi các nghiệp vụ mà ở đó đòi hỏi sự thận trọng trong các tiêu chuẩn lập BCTC. Ví dụ như các hợp đồng, hư hỏng tài sản, giá trị thanh lý của tài sản dài hạn hay các khoản nợ xấu, nợ khó đòi. Nếu những ước tính này sai lệch sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế thực sự khi QTLN trên cơ sở dồn tích được áp dụng (Joosten, 2012).
Nói cách khác, QTLN được đo lường trên cơ sở dồn tích là cách DN thay đổi lợi nhuận thông qua lợi dụng các phương pháp kế toán để dịch chuyển các khoản dồn tích nhằm hướng tới các mục tiêu đã đề ra trước đó (Nguyễn Thị Ngọc Lan & Lê Tuấn Anh, 2016; Nguyễn Đỗ Quyên & Trần Quốc Hoàng, 2018). Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo cơ sở tiền và không thể điều chỉnh được, đòi hỏi nhà quản lý phải điều chỉnh các biến kế toán dồn tích nếu muốn điều chỉnh lợi nhuận. Theo các nhà nghiên cứu, các biến kế toán dồn tích (Accruals) gồm hai phần: phần không thể điều chỉnh (NDA) và 8 phần có thể điều chỉnh từ nhà quản lý (DA). Như vậy, để nhận diện có hay không hành vi QTLN trên cơ sở dồn tích của các nhà quản lý, ta cần xác định giá trị của DA.
DA được tính như sau: DAt =TAt – NDAt (1) Trong đó: DAt là biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh tại năm t; NDAt là biến kế toán không thể điều chỉnh tại năm t; TAt là tổng các biến kế toán dồn tích tại năm t. TA được xác định qua công thức: TAt = NIt – OCFt (2) Trong đó: TAt là tổng các biến kế toán dồn tích tại năm t.