Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Nghiên cứu quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế 60 31 01, phân tích và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2011

126
14
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

1.1. Xuất khẩu lao động: bản chất, đặc điểm và các hình thức

1.1.1. Bản chất, đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động

2. CHƯƠNG 2: QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3. CHƯƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý xuất khẩu lao động ở Việt Nam hiện nay

Quản lý xuất khẩu lao động ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Hoạt động này không chỉ giúp giải quyết việc làm cho người lao động mà còn góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Tuy nhiên, thực trạng quản lý hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, cần được phân tích và cải thiện.

1.1. Bản chất và đặc điểm của xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác, nhằm tạo ra thu nhập cho người lao động và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Bản chất của hoạt động này gắn liền với sự phát triển kinh tế và chính sách của Nhà nước.

1.2. Các hình thức xuất khẩu lao động phổ biến

Có nhiều hình thức xuất khẩu lao động, bao gồm hợp đồng lao động, hiệp định giữa các chính phủ và các tổ chức kinh tế. Mỗi hình thức đều có những đặc điểm riêng, ảnh hưởng đến quy trình quản lý và thực hiện.

II. Thực trạng quản lý xuất khẩu lao động ở Việt Nam Những thách thức lớn

Thực trạng quản lý xuất khẩu lao động ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức. Các cơ quan quản lý chưa có sự phối hợp đồng bộ, dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch và hiệu quả trong hoạt động này. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động và uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

2.1. Những vấn đề tồn tại trong quản lý xuất khẩu lao động

Nhiều vấn đề tồn tại trong quản lý xuất khẩu lao động như thiếu thông tin, sự phối hợp kém giữa các cơ quan chức năng và sự thiếu hụt trong đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu.

2.2. Rủi ro trong xuất khẩu lao động và cách phòng ngừa

Rủi ro trong xuất khẩu lao động bao gồm việc người lao động bị lừa đảo, không được bảo vệ quyền lợi. Cần có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả để bảo vệ người lao động và nâng cao uy tín của Việt Nam.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía Nhà nước và các tổ chức liên quan. Việc cải cách chính sách, tăng cường đào tạo nghề và nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan là rất cần thiết.

3.1. Cải cách chính sách quản lý xuất khẩu lao động

Cần cải cách chính sách quản lý xuất khẩu lao động để tạo ra một khung pháp lý rõ ràng, bảo vệ quyền lợi của người lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

3.2. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu

Đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng lao động. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động quốc tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xuất khẩu lao động

Nghiên cứu về quản lý xuất khẩu lao động đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng cần nhìn nhận những hạn chế. Việc áp dụng các giải pháp thực tiễn sẽ giúp cải thiện tình hình và nâng cao hiệu quả hoạt động này.

4.1. Kết quả đạt được từ hoạt động xuất khẩu lao động

Hoạt động xuất khẩu lao động đã mang lại nhiều lợi ích cho người lao động và nền kinh tế. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá toàn diện để nhận diện những điểm mạnh và yếu.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các nước khác

Học hỏi từ kinh nghiệm quản lý xuất khẩu lao động của các nước khác sẽ giúp Việt Nam cải thiện quy trình và chính sách, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Kết luận về quản lý xuất khẩu lao động ở Việt Nam cho thấy cần có những bước đi mạnh mẽ để cải thiện tình hình. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động và cải cách chính sách quản lý.

5.1. Định hướng phát triển xuất khẩu lao động trong tương lai

Định hướng phát triển xuất khẩu lao động cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng lao động và mở rộng thị trường xuất khẩu.

5.2. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước trong xuất khẩu lao động

Quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều tiết hoạt động xuất khẩu lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và phát triển bền vững.

25/07/2025
Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở việt nam luận văn ths kinh tế 60 31 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết: Chƣơng 1: Lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động. Chƣơng 2: Quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam: thực trạng và một số vấn đề đặt ra. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015. 1 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.

Xuất khẩu lao động: bản chất, đặc điểm và các hình thức 1. Bản chất, đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động 1. Bản chất của hoạt động xuất khẩu lao động Cách đây hàng thế kỷ, hiện tượng cư dân của nước này sang nước khác vì lý do kinh tế, chủ yếu là để kiếm công ăn việc làm, đã xuất hiện. Đến cuối thế kỷ XIX, các mỏ khoáng sản ở Nam Phi đã thu hút nhiều luồng di dân có tổ chức ở một số nước lân cận và cả từ Mỹ La tinh xa xôi.

Dần dần, nhận thấy đây là một ngành kinh doanh rất béo bở, nhiều công ty quốc gia hoặc đa quốc gia đã hình thành để mua, bán sức lao động. Là một lĩnh vực nhạy cảm, nhằm hạn chế những hành vi tiêu cực, các quốc gia liên quan đã tiến hành những cuộc đàm phán song phương, đa phương, đi tới các hiệp định, chứng thư bảo vệ người cư trú, hoặc thiết lập các cơ quan kiểm soát nghiêm ngặt. Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) ngay từ năm 1919 đã sớm nhận thức độ nhạy cảm của vấn đề xuất, nhập khẩu lao động và nguy cơ bị tổn thương của lao động di trú nên đã ban hành khuyến nghị số 86, trong đó ghi rõ: “Nếu người cư trú không có nghề mà nước nhập cư đòi hỏi, thì phải đào tạo nghề cho họ trước khi đi hoặc sau khi đến”. Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, XKLĐ về cơ bản là đưa lao động phổ thông từ nước kinh tế chậm phát triển sang các nước có nền kinh tế phát triển.

Sau chiến tranh, cùng với sự gia tăng nhanh chóng của đầu tư quốc tế, trong đó có hình thức nhận thầu công trình quốc tế, nội dung XKLĐ có sự thay đổi lớn. XKLĐ là một lĩnh vực rất rộng, có tính chất phức tạp và nhạy cảm do liên quan trực tiếp đến con người, đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ đối ngoại. Mặt khác, đây lại là lĩnh vực còn tồn tại nhiều quan điểm 1 và nhận thức khác nhau cả trong nhận thức lẫn trong thực tiễn. Do đó, việc làm rõ bản chất, đặc điểm và các hình thức XKLĐ để từ đó thống nhất trong lý luận cũng như trong việc hoạch định chính sách là rất cần thiết.

* Một số khái niệm liên quan đến thuật ngữ XKLĐ: Theo cách hiểu rộng nhất, XKLĐ gồm XKLĐ tại chỗ (các doanh nghiệp trong nước nhận nguyên liệu, công nghệ thiết bị nước ngoài và sản xuất sản phẩm theo đơn hàng của bạn; các liên doanh, các công ty, tổ chức nước ngoài đóng trên lãnh thổ sử dụng lao động nước sở tại) và XKLĐ ra nước ngoài. Liên quan đến sự di chuyển lao động trong quan hệ kinh tế quốc tế đã có một số quan niệm, thuật ngữ được sử dụng như: hợp tác quốc tế về lao động, đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và xuất khẩu lao động. Hợp tác quốc tế về lao động là thuật ngữ được sử dụng vào những năm 1980 ở một số nước XHCN thuộc phạm vi khối SEV, trong đó có Việt Nam. Thuật ngữ này phản ánh hoạt động cung ứng và tiếp nhận người lao động giữa Việt Nam với một số nước XHCN, Châu Phi và Trung Đông theo các hiệp định của Chính phủ.

Theo thỏa thuận của các hiệp định đã được ký kết, người lao động được đưa sang nước khác làm việc và được vào làm việc trong các cơ sở của người nước ngoài; đồng thời, người lao động nước ngoài được tiếp nhận vào Việt Nam làm việc. Tuy nhiên, trong thực tế, hợp tác quốc tế về sử dụng lao động chủ yếu là Việt Nam cung cấp lao động đáp ứng nhu cầu lao động thiếu hụt ở các nước trong khối thông qua một “kênh” duy nhất là nhà nước tuyển chọn và trực tiếp đưa lao động ra nước ngoài nhằm mục đích nâng cao trình độ tay nghề và hợp tác hữu nghị, chưa chú trọng đến mục đích kinh tế. Hợp tác quốc tế về lao động ở thời kỳ này là sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, không phản ánh quan hệ trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động nhằm thực hiện lợi ích kinh tế giữa các chủ thể. 1 Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là thuật ngữ được sử dụng chính thức và phổ biến trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ đầu những năm 1990 đến nay.

Theo Nghị định số 370/HĐBT ngày 07/11/1991 thì “đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam với những nước sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau (Điều 1). Như vậy, việc dùng cụm từ “đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” thay cho “hợp tác quốc tế về lao động” thể hiện một quan niệm mới về sức lao động và việc đưa lao động ra nước ngoài làm việc. Đến thời điểm này, sức lao động đã được thừa nhận là hàng hóa và do đó, nó có thể trao đổi, mua bán ở cả trong nước và ngoài nước. Mục đích của việc đưa người lao động ra nước ngoài làm việc được xác định rõ: về kinh tế, là thu nhập cho người lao động và thu ngoại tệ về cho đất nước; về xã hội, là giải quyết việc làm; về quan hệ quốc tế là sự mở rộng hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật.

“Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” được thực hiện theo các hình thức: hiệp định giữa hai chính phủ; các hợp đồng cung ứng lao động giữa các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài. Nhà nước không trực tiếp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà chủ yếu do các tổ chức kinh tế được cấp phép đảm nhiệm. Hoạt động này đã phản ánh được bản chất của việc cung ứng và tiếp nhận lao động giữa các quốc gia. Đó là sự trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động nhằm mục đích kinh tế - xã hội.

Hoạt động này nằm trong quỹ đạo của nền kinh tế thị trường và chịu sự quản lý của nhà nước. Để phát triển, quản lý chặt chẽ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và tạo cơ sở pháp lý cho việc sử lý các vi phạm cần thiết 1 phải ban hành Luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tại kỳ họp thứ 9, ngày 05 tháng 6 năm 2006, Quốc hội Khóa XI đã cho ý kiến vào dự án Luật “Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài”. Theo Luật này, “người lao động đi làm việc ở nước ngoài” gồm: - Người lao động có nghề, lao động phổ thông đi làm việc ở nước ngoài.

- Chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài theo các Hiệp định, thỏa thuận giữa nước ta với nước ngoài; - Người đi làm việc ở nước ngoài với danh nghĩa “tu nghiệp sinh” hoặc thực tập nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn. Xuất khẩu lao động là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có tính chất thông dụng để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác, kể cả XKLĐ tại chỗ. Tham gia vào quá trình này gồm hai bên: bên nhập khẩu lao động và bên xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động còn gọi là xuất khẩu vô hình, là một hình thức cung cấp cho nước ngoài một số lượng lao động phục vụ nhất định để đạt được thu nhập ngoại tệ, kỹ thuật, kinh tế bao gồm nhiều hình thức: công trình giao thông, xây lắp kiến trúc, sự nghiệp công cộng, thương nghiệp, y học,.

Là một loại xuất khẩu phi hàng hóa (so sánh với xuất khẩu hàng hóa), nếu xét ở góc độ kinh tế, XKLĐ có những đặc điểm: đầu tư ít, hiệu quả nhanh, giá thành thấp và lợi nhuận cao. Ngoài ra, do tính mềm dẻo cao, lĩnh vực phát triển rộng và năng lực thích nghi nhanh, XKLĐ được xem là một trong những lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước, XKLĐ ngày nay được các nước xếp vào nhóm ngành dịch vụ thu ngoại tệ cùng với các ngành như du lịch, xây dựng, y tế, giao dục, bảo hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông, dịch vụ ngân hàng,. 1 * Bản chất của hoạt động XKLĐ: Từ hiện tượng di chuyển lao động tự do đến XKLĐ là một quá trình gắn liền với sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Nếu việc di chuyển người lao động ban đầu còn mang tính tự phát thì hoạt động XKLĐ đã mang tính tự giác, nghĩa là có tổ chức đưa người lao động đi và về, có sự hạch toán kinh tế, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, vừa chịu sự quản lý, điều tiết của nhà nước vừa vận động tuân theo những nguyên tắc và quy luật của thị trường.

Bởi, trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là hàng hóa, được đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường. Nhưng người lao động là chủ sở hữu sức lao động, chỉ bán giá trị sử dụng của sức lao động và bán trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng sức lao động theo những điều kiện đã được thỏa thuận giữa hai bên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ