phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng trƣờng mầm non ĐCQG; Chƣơng 2: Thực trạng quản lý xây dựng trƣờng mầm non ĐCQG ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên; Chƣơng 3: Biện pháp quản lý xây dựng trƣờng mầm non ĐCQG ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƢỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: "Tiếp tục nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy và học, hệ thống trƣờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá". Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tƣ tƣởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nƣớc đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân ngƣời học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học".
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng lại tiếp tục khẳng định: "Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tƣ để phát triển giáo dục và đào tạo. Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong đầu tƣ phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nƣớc chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc…Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trƣờng, lớp học; từng bƣớc hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin". Để thực hiện chủ trƣơng, định hƣớng đổi mới GD&ĐT của Đảng, Chính phủ đã xây dựng Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2011-2020 với mục tiêu phấn đấu: "Đến năm 2020, nền giáo dục nƣớc ta đƣợc đổi mới căn bản và toàn diện theo hƣớng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lƣợng giáo dục đƣợc nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lƣợng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi ngƣời dân, từng bƣớc hình thành xã hội học tập”. Xây dựng trƣờng đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học, bậc học là một trong những giải pháp chính nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện của nhà trƣờng, góp 6 phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
Xác định nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng trƣờng đạt chuẩn quốc gia, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã ban hành các văn bản về xây dựng trƣờng đạt chuẩn quốc gia cho từng cấp học, bậc học, đặc biệt đối với bậc mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản pháp quy nhƣ: Từ năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ- BGD&ĐT ngày 16/7/2008 kèm theo Quy chế công nhận trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia; Quyết định này thay thế cho Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 26/12/2001. Đến năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tƣ số 02/2014/TT-BGDĐT về việc Ban hành Quy chế công nhận trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia thay thế Quyết định số 36/2008/QĐ- BGD&ĐT. Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tƣ số 19/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 quy định về kiểm định chất lƣợng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trƣờng mầm non. Theo quy định chung, một trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia phải đạt 5 tiêu chuẩn: Tổ chức và quản lý nhà trƣờng; Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; Quan hệ giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội; Hoạt động và kết quả nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
Từ đó, các địa phƣơng, các cấp quản lý giáo dục trong phạm vi cả nƣớc đã khẩn trƣơng thực hiện và thu đƣợc kết quả nhất định ở các trƣờng mầm non trong những năm gần đây. Đã có hội nghị, hội thảo, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia đƣợc thể hiện ở các bài nghiên cứu, đề tài luận văn sau: - Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trƣờng mầm non thành phố Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia của tác giả Phạm Thị Loan (2004). - Thực trạng và giải pháp tăng cƣờng cơ sở vật chất xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia ở Hải Phòng của tác giả Phạm Thị Loan, đăng trên tạp chí phát triển giáo dục số 2 - tháng 02/2005. Tuy nhiên, các hội nghị, hội thảo và các đề tài nghiên cứu hiện nay chỉ đề cập đến những vấn đề về cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia nhƣ thực trạng về trình độ đào tạo và năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên; về cơ sở vật chất của các trƣờng.
Từ đó, đƣa ra các biện pháp giải quyết nhƣ tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc xây dựng trƣờng đạt chuẩn quốc gia; tăng cƣờng quỹ đất cho các trƣờng; xây dựng phòng học, phòng chức năng và đầu tƣ trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo chuẩn; huy động các nguồn lực tài 7 chính… nhƣng chƣa bàn sâu đến biện pháp quản lý xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia, đặc biệt ở địa bàn nghiên cứu, chƣa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này. Luận văn này tập trung nghiên cứu thực trạng của việc xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo. Các khái niệm chính 1. Quản lý Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, đƣợc ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Có nhiều cách giải thích thuật ngữ "quản lý" tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt (2009): Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Nhƣ vậy, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc, duy trì hoạt động, quản lý là sự tác động hợp khách quan làm cho hệ thống đó vận động, vận hành và phát triển. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi ngƣời vào hoạt động của họ trong tổ chức.
Quản lý là hoạt động chung của toàn bộ tổ chức". Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định: "Quản lý là sự tác động, liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển đối tƣợng". Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhƣng đều thống nhất cách hiểu đó là: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Quản lý giáo dục Có nhiều quan điểm phân định các chức năng cơ bản của quản lý.
Cho đến nay, đa số các nhà quản lý cho rằng quản lý có bốn chức năng cơ bản là: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra. Bốn chức năng đó quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Khoa học quản lý giáo dục đã hình thành và phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục. Về mặt lịch sử, khoa học quản lý 8 giáo dục ra đời sau khoa học quản lý kinh tế, vì vậy nó sử dụng đƣợc những thành tựu tiến bộ của khoa học quản lý.
Trên thế giới, tồn tại hai xu hƣớng phát triển về khoa học quản lý giáo dục: (1)Xu hƣớng thứ nhất là thực hiện quá trình quản lý giáo dục trên cơ sở của quản lý kinh tế, coi quản lý cơ sở giáo dục nhƣ một loại "xí nghiệp đặc biệt"; (2)Xu hƣớng thứ hai, quá trình quản lý giáo dục bắt nguồn từ lý luận quản lý xã hội. Xã hội chia thành ba lĩnh vực: “chính trị - xã hội”, “văn hóa - tƣ tƣởng”, và “kinh tế”. Quản lý xã hội là quản lý ba lĩnh vực đó và nhƣ vậy quản lý giáo dục nằm trong lĩnh vực quản lý văn hóa - tƣ tƣởng. Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội.
Quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ máy Nhà nƣớc, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình. Quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm: "quản lý hệ thống giáo dục" là quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, quốc gia) và “quản lý nhà trƣờng” là những tác động có mục đích, có hệ thống, có khoa học, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý là quá trình dạy - học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục.