Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nguồn vốn theo cơ chế tập trung của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực tiễn quản lý vốn theo cơ chế tập trung tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý vốntheo cơ chế tập trung tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN THEO CƠ CHẾ TẬP TRUNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế 1.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Ở Mỹ: “NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.” [4] Ở Pháp: “NHTM là những xí nghiệp và cơ sở thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác những số tiền họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiếc khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.” [4] Ở Việt Nam, theo Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua 12/12/1997, định nghĩa:“Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Các chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có bốn chức năng cơ bản - Chức năng trung gian tài chính, bao gồm trung gian tín dụng và thanh toán. Đây là chức năng đặc trưng cơ bản nhất của NHTM, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc huy động khoản tiền tệ chưa sử dụng từ các chủ thể kinh tế khác nhau trong xã hội để hình thành nên quỹ cho vay tập trung. Trên cơ sở nguồn vốn này, NHTM sử dụng để cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng,…của các chủ thể kinh tế.
7 z - Chức năng “ sản xuất” gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Trên cơ sở khách hàng mở tài khoản tiền gửi, ngân hàng cung cấp các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như: thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi, séc,.ngân hàng sẽ đại diện chủ tài khoản thực hiện các giao dịch. Hoạt động trên của ngân hàng mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế như:. Trên cơ sở đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn, ngân hàng đã thành công với vai trò thúc đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, tạo đà phát triển kinh tế.
Tiết giảm lượng tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông. - Chức năng tạo tiền, sáng tạo ra bút tệ gia tăng khối tiền tệ. Ngân hàng nhận tiền gửi từ cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác, nhằm đảm bảo an toàn tài sản, và đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng. Đồng thời, ngân hàng cam kết chi trả một mức lãi suất nhất định cho khách hàng tùy thuộc vào loại hình tiền gửi.Ngân hàng đã tạo được nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng, và còn là cơ sở để thực hiện chức năng thanh toán.
- Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác. Ngân hàng có thể tư vấn về tài chính, đầu tư cho doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, chứng khoán. Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ như: lưu trữ và quản lý chứng khoán, thu lãi chứng khoán, thực hiện mua bán chứng khoán cho khách hàng,… 1. Hoạt động của NHTM Theo Luật Ngân hàng Nhà nước thì “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là 8 z nhận tiền gửi và sử dụng nguồn tiền này để cung cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”.
[10] Hoạt động kinh doanh của NHTM gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: NHTM Nghiệp vụ TS Có Nghiệp vụ TS Nợ Nghiệp vụ môi giới trung gian. Nghiệp vụ ngân quỹ Nguồn vốn tự có Nghiệp vụ tín dụng Tài khoản giao dịch Khoảng mục đầu tư Vay vốn trên thị trường tiền tệ Kinh doanh hối đoái 1. Quản lý tài sản Có và tài sản Nợ Bài học kinh nghiệm từ Khủng hoảng tài chính năm 1997 của các nước Châu Á cho thấy, quản lý yếu kém là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của các ngân hàng. Trong hoạt động quản lý kinh doanh ngân hàng, quản lý nguồn vốn và sử dụng vốn chiếm một vai trò rất quan trọng.
- Quản lý nguồn vốn chính là quản lý Tài sản Nợ. - Quản lý sử dụng vốn chính là quản lý Tài sản Có. Quản lý tốt Tài sản nợ và Tài sản có sẽ giúp ngân hàng tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định, đảm bảo khả năng thanh khoản và hạn chế các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Quản lý tài sản Có Tài sản Có được hiểu là kết quả từ việc sử dụng vốn của ngân hàng.
9 z Quản lý tài sản Có là việc quản lý các danh mục sử dụng vốn nhằm tạo một cơ cấu tài sản Có thích hợp. Thành phần của tài sản Có bao gồm: ngân quỹ, tín dụng, đầu tư và các tài sản khác đảm bảo ngân hàng hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả.[4] Tài sản có là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng, là những tài sản được hình thành từ các nguồn vốn của ngân hàng trong quá trình hoạt động Phân loại tài sản có của ngân hàng: -Căn cứ vào hình thức tồn tại, tài sản Có của ngân hàng có thể tồn tại dưới dạng tài sản thực, tài sản chính và tài sản vô hình. -Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, tài sản của ngân hàng được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sỡ hữu, vốn tích luỹ trong qúa trình kinh doanh, vốn huy động và vốn đi vay,… -Căn cứ vào vị trí trong Bảng tổng kết tài sản, tài sản của ngân hàng bao gồm tài sản nội bảng và tài sản ngoại bảng. Các khoản mục trong tài sản có luôn đi kèm với các rủi ro.
Vậy để quản lý tốt tài sản có ta cần quản lý chặt chẻ các loại rủi ro đi kèm cũng có nghĩa là tối thiểu hoá rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận. Ta có thể sử dụng các phương pháp quản lý tài sản có hiệu quả như sau.Phân chia tài sản có để quản lý. Xây dựng chính sách đầu tư hiệu quả Quản lý TSC coCó c.Xây dựng chính b. Quản trị dự trữ sách tín dụng hiệu quả a.
Phân chia tài sản Có để quản lý 10 z - Căn cứ vào tính thanh khoản, ta chia tài sản Có theo thứ tự giảm dần nhƣ sau: Dự trữ sơ cấp tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại các ngân hàng khác.Vì đây là loại tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp nên các ngân hàng chỉ duy trì ở mức độ vừa đủ hoặc đủ để đáp ứng yêu cầu của ngân hàng Nhà nước. Dự trữ thứ cấp tồn tại dưới hình thức các chứng khoán có tính thanh khoản cao. Các loại chứng khoán này phải đáp ứng các điều kiện: an toàn (trái phiếu chính phủ), thời gian đáo hạn ngắn (dưới 1 năm) và dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt. Tín dụng bao gồm các khoản chi vay, chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh,… đây là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại nhưng là loại thu nhập có rủi ro.
Vì thế hoạt động tín dụng luôn được kiểm soát chặt chẽ. Đầu tư tùy thuộc vào mục đích đầu tư, đầu tư do nhu cầu thanh khoản thì đó là dự trữ thứ cấp, đầu tư vì lợi tức thì đó là các loại trái phiếu có thời hạn dài, lợi tức cao. - Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của nguồn hình thành, tài sản Có đƣợc chia thành 3 nguồn sau: Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi không ổn định nhưng có chi phí huy động thấp nên hầu như được sử dụng cho dự trữ sơ cấp và một phần để cho vay ngắn hạn. Tiền gửi có kỳ hạn: loại tiền gửi này có tính ổn định và chi phí huy động cao nên phần dự trữ cho nguồn huy động này không lớn, dùng chủ yếu cho vay trung, dài hạn.
11 z Vốn điều lệ và các quỹ: Đây là nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng nên tính ổn định rất cao, nguồn vốn này được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, thiết bị, công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đầu tư,nhu cầu dự trữ cho nguồn vốn này là không cần thiết. - Thiết lập các trung tâm. Từ việc phân chia tài sản Có căn cứ vào nguồn hình thành, ta thiết lập các trung tâm tương ứng với từng nguồn. Các trung tâm này được coi là các NH nhỏ trong NH lớn và có trách nhiệm phân chia nguồn vốn của trung tâm mình để hình thành nên các khoản mục tài sản Có thích hợp.
Cách thức quản lý tài sản Có này gần giống như Mô hình QLVtheo cơ chế tập trung được trình bày chi tiết trong mục 1. Từ ý tưởng thành lập các trung tâm vốn, tiến tới hình thành một trung tâm quản lý vốn tập trung để quản lý tài sản Có và tài sản Nợ. - Mô hình lập trình tuyến tính. Căn cứ vào từng loại tài sản Có, nhà quản lý NH sẽ xác định danh mục tài sản Có với khối lượng và lợi nhuận mang lại là hiệu quả nhất.1: Mô hìnhDanh mục đầu tƣ đƣợc minh họa với lãi suất giả định nhƣ sau: STT Khoản mục Lãi suất (%) Khối lượng 1 Dự trữ sơ cấp 3 X1 2 Dự trữ thứ cấp 5 X2 3 Tín dụng 9 X3 4 Đầu tư 7 X4 5 Tài sản khác 2 X5 12 z Danh mục đầu tư: F(x) = 3X1 + 5X2 + 9X3 + 7X4 + 2X5 Max Nguồn: Quản trị ngân hàng thương mại.
Quản lý dự trữ Dự trữ là một bộ phận tài sản được duy trì song song với tài sản sinh lời nhằm đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ phát sinh, các khoản chi tiêu và cho vay thường xuyên của ngân hàng.