CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC” 1. Vốn doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn của doanh nghiệp Sau đây học viên sẽ trình bày một số khái niệm, quan điểm về vốn theo trình tự thời gian từ xưa tới nay. Theo quan điểm của Karl Marx (1863) dưới góc nhìn của yếu tố sản xuất thì “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.Tuy vậy, Karl Marx“đã nghĩ rằng chỉ khu vực sản xuất hàng hóa mới tạo ra được giá trị thặng dư cho nền kinh tế, mới là mục tiêu và động lực của tư bản; tuy nhiên thực tế đã cho thấy các khu vực khác như dịch vụ, công nghệ …”đều có thể tạo ra giá trị thặng dư.Samuelson (1947) cho rằng “Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất.
Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó”. Quan điểm của David Begg (2007) “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”.[6,25] David Begg đã đồng nhất vốn với tài sản“của doanh nghiệp. Trong đó: Vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác.
Qua các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu khái niệm vốn của doanh nghiệp như sau:“Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận”. Phân loại vốn của doanh nghiệp” “Phân loại vốn là một trong các công việc khá quan trọng mà nhà quản trị tài chính cần thực hiện nhằm xem xét tổng thể các loại vốn, cơ cấu của nó, để từ đó có thể xác lập được các mục tiêu quản trị một cách phù hợp. Đồng thời về mặt học thuật việc phân loại vốn đã được giảng dạy khá chi tiết và khá sớm trong các bộ 10 môn về tài chính doanh nghiệp, quản trị tài chính đối với trường đại học và được rất nhiều tác giả trình bày. Cụ thể như theo Bùi Hữu Phước và cộng sự (2005) - Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp, có các cách phân loại vốn trong doanh nghiệp như sau:” 1.“Căn cứ theo nguồn hình thành vốn” -“Vốn chủ sở hữu được định nghĩa là vốn do chủ doanh nghiệp đóng góp để triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn chủ sở hữu thường bao gồm số vốn góp ban đầu và lợi nhuận trong quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.” - Vốn vay:“khoản vốn đầu tư mà doanh nghiệp đi vay từ các cá nhân, tổ chức tín dụng, đối tác trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn vay thường kèm theo các điều kiện nhất định như: thời gian sử dụng, lãi suất vay, tài sản thế chấp; và có hai loại là vốn vay ngắn hạn, và vốn vay dài hạn 1. Căn cứ theo thời gian huy động vốn -“Vốn thường xuyên: nguồn vốn có tính chất ổn định, và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng, để đầu tư vào tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu, thường xuyên, cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu, và vốn vay dài hạn, của”doanh nghiệp.
-“Vốn tạm thời: nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh số có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao, gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng. Căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn” -“Vốn cố định: thường được dùng để đầu tư vào tài sản cố định và tài sản đầu tư cơ bản, mà đặc điểm luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định nhưng các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý cố định.
Muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu hiệu.” 11 -“Vốn lưu động thường được đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên”liên tục. Căn cứ theo chủ thể sử dụng vốn “Đối với công ty có tổ chức thành nhiều đơn vị trực thuộc, liên kết, góp vốn thì vốn kinh doanh của công ty hiện tại có thể được dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân công ty mẹ song cũng có thể đầu tư vào các đơn vị trực thuộc, công ty liên kết, công ty liên doanh nhằm mục đích”thu lợi nhuận. -“Vốn tại công ty biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản (hữu hình và vô hình) mà công ty đã huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của chính công ty và phải do công ty trực tiếp quản lý, trực tiếp”sử dụng. -“Vốn đối với đơn vị trực thuộc là vốn mà công ty giao cho các đơn vị của công ty trực tiếp sử dụng, quản lý và công ty chỉ gián tiếp quản lý thông qua cơ chế tài chính đối với các đơn vị trực thuộc”của minh.
- Vốn đối với đơn vị liên doanh và liên kết là“vốn của công ty đóng góp, góp vốn đối với đơn vị liên kết, liên doanh với mình theo 1 tỷ lệ nhất định căn cứ vào thỏa thuận giữa các đơn vị liên doanh, liên kết.” “Tóm lại, qua mỗi cách phân loại đã đưa ra ở phía trên cho chúng ta hiểu rõ hơn về vốn theo các góc độ khác nhau. Mỗi căn cứ phân loại đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, hơn nữa mỗi loại vốn sẽ có tác dụng trong những điều kiện riêng, trong một cơ cấu về vốn thích hợp để đạt các mục tiêu chung của công ty, đòi hỏi phải được quản lý sử dụng một cách hợp lý”và chặt chẽ. Quản lý vốn doanh nghiệp đối với đơn vị trực thuộc 1. Khái niệm và nội dung quản lý vốn doanh nghiệp - Khái niệm quản lý vốn doanh nghiệp: Theo TS.
Nguyễn Minh Dũng trong luận án: Quản lý vốn đầu tư của“công ty mẹ vào các công ty con trong tập đoàn Bưu chính Viễn Thông Việt Nam. Học viện Tài Chính, năm 2014. Vốn là một phần vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy quản lý vốn chính là tác động của nhà quản lý tới việc sử dụng vốn trong họat động kinh doanh sản xuất trong doanh nghiệp.
Nó 12 được thực hiện qua việc sử dụng phương pháp, hình thức và công cụ để đạt được mục tiêu của nhà quản lý trong”doanh nghiệp. “Quản lý vốn là việc sử dụng một cách tổng hợp các hình thức, phương pháp và những công cụ quản lý thích hợp nhằm bảo toàn, phát triển được số vốn đã bỏ ra đầu tư, không ngừng nâng cao hiệu quả đồng vốn của công ty. Điều này chỉ có thể đạt được khi hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty và các đơn vị trực thuộc ngày càng tăng, giá trị vốn chủ sở hữu của công ty ngày càng được phát triển.” “Trong các công ty có tổ chức thành nhiều đơn vị trực thuộc, trên tư cách là chủ đầu tư công ty có quyền chủ động lựa chọn quyết định đầu tư vốn vào các đơn vị trực thuộc sao cho có hiệu quả nhất, đồng thời có quyền kiểm tra, giám sát hiệu quả hoạt động SX - KD của các đơn vị trực thuộc, phù hợp với các quy định của công ty, của pháp luật nhằm đảm bảo cho số vốn đã đầu tư được sử dụng hiệu quả, bảo toàn, và phát triển”được vốn. “Nôi dung cơ bản của quản lý vốn của doanh nghiệp đối với các đơn vị trực thuộc có thể được khái quát như sau:” -“Xác định mục tiêu phân bổ vốn cho các đơn vị trực thuộc: Tùy thuộc vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp mà mục tiêu đầu tư có thể được lựa chọn khác nhau.
Xét về cơ bản, lâu dài mục tiêu đầu tư là phải làm tăng giá trị tài sản cho doanh nghiệp. Trong trường hợp có nhiều mục tiêu nhưng lại mâu thuẫn với nhau thì luôn phải ưu tiên lựa chọn các mục tiêu cốt lõi, cơ bản nhất.” -“Hoạt động sử dụng vốn hợp lý: Việc thực hiện bỏ vốn đầu tư của doanh nghiệp vào các đơn vị trực thuộc cũng đòi hỏi có sự phân bổ nguồn vốn hợp lý, tức xác định đúng đắn địa chỉ đầu tư, khắc phục tình trạng đầu tư manh mún, dàn trải, đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính, lĩnh vực đầu tư có rủi ro cao. Việc sử dụng vốn đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính có mục đích là đa dạng hoá danh mục đầu tư và phân tán rủi ro. Tuy nhiên, việc đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính của doanh nghiệp sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp thiếu hụt vốn để đầu tư”theo chiều sâu hoặc mở rộng đối với ngành nghề kinh doanh chính.
“Về mặt nguyên tắc, doanh nghiệp phải ưu tiên sử dụng vốn để đầu tư cho ngành kinh doanh chính, nếu dư thừa vốn thì có thể đầu tư ra ngoài ngành 13 nhằm đa dạng hoá kinh doanh và gia tăng lợi nhuận. Quyết định lựa chọn đầu tư của doanh nghiệp vào đơn vị thành viên cũng cần được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tạo nên những thay đổi rõ rệt trong hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, cần lựa chọn đúng đắn địa chỉ đầu tư, ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, qui mô đầu tư, thời điểm đầu tư và phương thức đầu tư để đạt hiệu quả nhất.” -“Kiểm tra và giám sát việc sử dụng vốn: Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính sẽ giúp cho sử dụng vốn đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả, tìm kiếm và ngăn chặn tình trạng tham ô, lãng phí.” “Tùy theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc là gián tiếp mà cơ chế kiểm tra và giám sát vốn đầu tư của doanh nghiệp vào các đơn vị trực thuộc, liên kết, góp vốn thể khác nhau phù hợp với các quy định của công ty và pháp luật.