Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm vốn xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước Theo Luật Đầu tư năm 2014 thì: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh” [35, tr. Theo Nghị định 385-HĐBT ngày 7 tháng 11 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế Điều lệ quản lý XDCB đã ban hành kèm theo Nghị định 232/NĐ-CP ngày 6/6/1981 thì “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán” [23, tr.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau: Vốn ngân sách nhà nước: Vốn NSNN được hình thành từ tích lũy của nền kinh tế và được nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách. Vốn tín dụng đầu tư bao gồm: Vốn của NSNN dùng để cho vay, vốn huy động của các đơn vị trong nước và các tầng lớp dân cư,vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế. Vốn tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, đối với doanh nghiệp quốc doanh, vốn này hình thành tự lợi nhuận, vốn khấu hao cơ bản để lại, tiền thanh lý tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của Nhà nước. Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài: Vốn này của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam 7 Luan van Vốn vay nước ngoài bao gồm: Vốn do Chính phủ vay theo hiệp định ký kết với nước ngoài, vốn do các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ trực tiếp vay của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và vốn do ngân hàng Đầu tư phát triển đi vay.
Vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài (ODA). Vốn huy động của dân cư bằng tiền, vật liệu hoặc công cụ lao động. Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Vậy, từ những nội dung trên, ta có thể rút ra khái niệm Vốn xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN là ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ sự tích lũy của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Đặc trưng của vốn xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước - Vốn XDCB từ nguồn NSNN được phân bổ cho các hoạt động XDCB thường phụ thuộc vào quan điểm phát triển ở từng thời kỳ và sự ưu tiên phát triển ở từng hạng mục công trình (liên quan đến cơ cấu phân bổ vốn từ nguồn NS cho các loại hoạt động, trong đó có hoạt động XDCB). - Vốn XDCB từ nguồn NSNN được duy trì cấp thường xuyên do yêu cầu quản lý nhà nước (trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng một cách liên tục và ổn định. Các hàng hóa và dịch vụ công này được thực hiện một phần từ nguồn vốn NSNN cấp như xây dựng đường xá, công viên, bến cảng,…. - Do đặc điểm của hoạt động XDCB, nhu cầu vốn cho các hoạt động XDCB lớn, vì vậy cũng chỉ có nguồn NSNN mới có thể cung cấp thường 8 Luan van xuyên với một số lượng nhất định nhằm đảm bảo cho các hoạt động XDCB được duy trì và thông suốt.
Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vốn XDCB từ nguồn NSNN là điều kiện tiền đề cho một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và nó đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển KT – XH của mỗi quốc gia và địa phương. Thứ nhất, vai trò cân đối nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, do cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận, nên một số ngành kinh tế sẽ phát triển mất cân đối như các ngành mang tính phúc lợi xã hội phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân khả năng thu hồi vốn thấp hoặc ít lợi nhuận thì ít được đầu tư vào; trong trường hợp đó vốn từ nguồn NSNN đã góp phần quan trọng cân đối điều chỉnh cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ, tạo nên sự cân đối đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ nguồn vốn XDCB từ NSNN mà vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước được thực hiện. Qua đó, Nhà nước có thể triển khai các dự án, công trình trọng điểm nhằm điều chỉnh, cân đối, phát triển kinh tế vĩ mô theo định hướng XHCN.
Thứ hai, vai trò thực hiện chính sách xã hội Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm của nền kinh tế thị trường thì vẫn còn tồn tại những hạn chế hay khuyết tật của nền kinh tế thị trường như sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch về điều kiện sống giữa các khu vực thành thị, nông thôn, vùng miền… ngày càng tăng lên. Để giảm bớt sự chênh lệch đó, tạo sự công bằng xã hội, Nhà nước cần có chính sách xã hội; vốn XDCB từ nguồn NSNN để xây dựng các công trình phúc lợi là công cụ quan trọng nhất, hiệu quả nhất và chủ động nhất để thực hiện các chính sách đó. Thông qua nguồn vốn ngân sách, Nhà nước ta đã thực hiện các chương trình phát triển nông thôn, chương trình tạo việc làm, xóa đói 9 Luan van giảm nghèo… tạo điều kiện phát triển kinh tế các vùng sâu, vùng xa; giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền; giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội. Thứ ba, vai trò thu hút mọi nguồn vốn đầu tư khác Nhờ nguồn vốn từ NSNN, cơ sở hạ tầng phát triển đã tạo điều kiện tiền đề giúp các thành phần kinh tế phát triển, còn đối với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì vốn XDCB từ nguồn NSNN được coi là “vốn mồi” thu hút vốn đầu tư vào phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, góp phần giải ngân các nguồn vốn ODA, FDI … Thứ tư, vai trò định hướng phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị Vốn XDCB từ nguồn NSNN tập trung cho các lĩnh vực công cộng như các công trình phúc lợi xã hội, các ngành y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng và các ngành lĩnh vực có thể không đem lại lợi ích kinh tế hoặc rất khó thu hồi vốn cho nhà đầu tư.
Do vậy, các nhà đầu tư khác ít hoặc không muốn đầu tư trong khi nhu cầu xã hội về chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, đảm bảo an ninh ổn định chính trị thì rất cấp thiết. Chính vốn XDCB từ NSNN đáp ứng các nhu cầu đó. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão thông quá trình đầu tư xây dựng và chuyển giao đã tạo điều kiện để nắm bắt tiếp thu công nghệ mới, nâng cao trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới hiện đại mang tầm quốc gia và thế giới đòi hỏi nguồn vốn lớn mới có thể thực hiện mà đôi khi các thành phần kinh tế khác, hoặc tư nhân không đủ sức chỉ có vốn đầu tư từ NSNN mới đáp ứng được. Vốn XDCB tạo ra cơ sở vật chất năng lực sản xuất mới, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo việc làm mới cho người lao động giảm gánh nặng thất nghiệp cho xã hội, ổn định, an sinh và nâng cao điều kiện sống cho nhân dân.
Vì vậy, thông qua vốn XDCB từ NSNN tạo điều kiện ổn định chính 10 Luan van trị, đảm bảo các nhu cầu và điều kiện không ngừng hoàn thiện bộ máy Nhà nước, phát huy vai trò bộ máy Nhà nước trong quản lý mọi lĩnh vực. Thứ năm, vai trò kiểm tra của NSNN: đồng vốn từ NSNN trong hoạt động XDCB được kiểm tra, kiểm soát chặt. Thông qua NSNN kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốc dân, kiểm tra các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thúc đẩy khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản Nhà nước, chống thất thoát, chống lãng phí, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính. Tóm lại, vốn XDCB từ nguồn NSNN có vai trò to lớn, là động lực, là chìa khóa của sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị, đảm bảo an sinh xã hội.
Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý vốn xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là tổng thể các biện pháp, công cụ, cách thức mà nhà nước tác động vào quá trình hình thành (huy động), phân phối (cấp phát) và sử dụng vốn từ NSNN để đạt các mục tiêu kinh tế- xã hội đề ra trong từng giai đoạn. Từ khái niệm nêu trên có thể rút ra một số đặc điểm của quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN như sau: Thứ nhất, đối tượng quản lý ở đây là vốn đầu tư XDCB từ NSNN, là nguồn vốn được cấp phát theo kế hoạch NSNN với quy trình rất chặt chẽ gồm nhiều khâu: xây dựng cơ chế chính sách, xây dựng kế hoạch, xây dựng dự toán, định mức tiêu chuẩn, chế độ kiểm tra báo cáo, phân bổ dự án năm, phân bổ hạn mức kinh phí hàng quý có chia ra tháng, thực hiện tập trung nguồn thu, cấp phát, hạch toán kế toán thu chi quỹ NSNN, báo cáo quyết toán. Quản lý vốn đầu tư XDCB là một vấn đề nằm trong nội dung quản lý thu chi 11 Luan van NSNN.
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù phức tạp của quá trình xây dựng cơ bản (quyết định đến tính chất quản lý vốn) nên chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung trọng tâm như: lập kế hoạch vốn đầu tư; phân bổ vốn đầu tư; thanh quyết toán vốn đầu tư; kiểm tra và thanh tra các khâu từ hình thành đến thanh toán vốn đầu tư.