Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vật tư tại công ty Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý vật tư phục vụ công tác bảo dưỡng máy bay tại công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay (VAECO) Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý vật tư phục vụ công tác bảo dưỡng máy bay tại công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay (VAECO) 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VẬT TƢ TẠI CÔNG TY 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về dịch vụ và quản lý dịch vụ bảo dưỡng. Ngày nay trong nền kinh tế mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi công ty.
Áp lực cạnh tranh buộc các công ty luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu khách hàng, nếu không sẽ thua cuộc và bị loại ra khỏi thị trường. Tuy vậy, nghiên cứu về dịch vụ bảo dưỡng và nâng cao chất lượng dịch vụ bảo dưỡng đặc biệt dịch vụ bảo dưỡng máy bay rất ít đề tài, công trình đề cập. Có thể kể đến một số nghiên cứu liên quan đến dịch vụ như: Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng và nâng cao chất lượng dịch vụ Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng xe máy tại công ty TNHH TM & DV Khánh An ” của Lê Thị Uyên Vi, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng xe máy; phân tích mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng; đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng xe máy tại Công ty Khánh An, từ đó nâng cao sự hài lòng khách hàng, giữ được lượng khách hàng trung thành và thu hút khách hàng tiềm năng.
Nghiên cứu của Dương Tuấn Sơn (trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, năm 2012), phân tích và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ bảo dưỡng máy bay tại Công ty TNHH Kỹ thuật máy bay Việt Nam. Đề tài đã đề cập tương đối đầy đủ các nhân tố chính và quan trọng ảnh hưởng chủ yếu đến chất lượng dịch vụ của Công ty, những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại của chất lượng dịch vụ sửa chữa máy bay tại Công ty kỹ thuật máy bay Việt Nam, đồng thời đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ tại Công ty. Tuy nhiên việc nghiên cứu áp dụng đối với VAECO là chưa phù hợp do phạm vi, quy mô và tình chất công việc ở tầm khác nhau. 4 Thứ hai: Các công trình nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa xe ôtô tại công ty TNHH Phước Anh 3 tại Vĩnh Long, luận văn Thạc sĩ kinh tế của Huỳnh Trúc Mai, trường Đại học Cửu Long.
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh nhằm mục đích tìm ra được các khó khăn và thuận lợi mà công ty đang đối mặt. Bên cạnh đó với 150 khách hàng được phỏng vấn tác giả sử dụng các phương pháp phân tích Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy có 4 nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng Ô tô của công ty TNHH Phước Anh 3 là: Sự tin cậy; Phương tiện hữu hình; Khả năng đáp ứng và Năng lực của nhân viên. Từ cơ sở đó tác giả để xuất 5 hàm ý quản trị cụ thể là: Phương tiện hữu hình; Nâng cao khả năng đáp ứng; Nâng cao nâng lực nhân viên; Nâng cao sự tin cậy, cuối cùng là các hàm ý quản trị phục vụ cho các vấn đề liên quan đến thực trạng của công ty: Xây dựng quy định, văn hóa ứng xử cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng của công ty; Quảng bá hình ảnh, thương hiệu của công ty; Xây dựng và duy trì hiệu quả hoạt động thu thập thông tin, ý kiến của khách hàng; Mở rộng kinh doanh, địa bàn hoạt động cung cấp dịch vụ; Xây dựng chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ.
Qua các nghiên cứu trên chúng ta thấy một trong các yếu tố chính để thu hút khách hàng là việc giảm giá thành dịch vụ. Thông thường trong toàn bộ cơ cấu giá thành của một dịch vụ bảo dưỡng, các chi phí về vật tư, phụ tùng thực hiện dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng lớn. Do đó, để giảm giá thành các dịch vụ bảo dưỡng thì việc nghiên cứu được các mặt hạn chế, tồn tại và đưa ra các giải pháp cụ thể để hoàn thiện việc quản lý phụ tùng vật tư là vấn đề cấp thiết sống còn của doanh nghiệp. Đặc biệt là trong công tác bảo dưỡng máy bay thì chi phí vật tư phụ tùng chiếm tỷ trọng cao hơn so với các công tác bảo dưỡng thiết bị khác.
Do vậy, tác giả nhận thấy sự cần thiết phải nghiên cứu, đưa các ứng dụng của quản lý kinh tế vào việc quản lý vật tư trong công tác bảo dưỡng đặc thù này để xem xét áp dụng hoàn thiện và bắt kịp xu hướng hiện đại nhằm đem lại hiệu quả cho Công ty. Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu và khoảng trống cho luận văn Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đều đã nêu lên được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vật tư, bảo dưỡng trong các tổ chức, công ty, khẳng định vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của vật tư, bảo dưỡng trong các cơ quan, tổ chức. Tất cả các đề tài nghiên cứu đều đưa ra những giải pháp cụ thể thực hiện hiệu quả công tác quản lý vật tư. Tuy nhiên với mỗi tổ chức, công ty, mỗi đơn vị thì đều có mô hình hoạt động, tổ chức, lĩnh vực, địa bàn, quan điểm, phương thức, nguyên tắc riêng và khác nhau.
Với đặc thù về cơ quan, chức năng, nhiệm vụ và những vấn đề gặp phải cũng không giống nhau, cách giải quyết khác nhau. Do vậy, các cách tiếp cận nghiên cứu có thể có những điểm chung về lý thuyết, nhưng về cách thức vận dụng vào trong thực tiễn thì có nhiều điểm khác nhau. Quản lý vật tư phục vụ công tác bảo dưỡng máy bay tại Công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay cũng không thể giống với quản lý vật tư ở các cơ quan tổ chức khác. Luận văn nghiên cứu việc quản lý vật tư trong đơn vị cụ thể mang tính đặc thù riêng về cơ quan, chức năng, nhiệm vụ, vị trí làm việc có thể có một số phần giống các cơ quan đơn vị này, môt phần giống với cơ quan đơn vị khác.
Tác giả nhận thấy đến nay chưa có nghiên cứu nào về quản lý vật tư phục vụ công tác bảo dưỡng máy bay tại Công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay, do đó, trong luận văn này, tác giả sẽ kế thừa các công trình nghiên cứu nói trên và sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề: (1) Thực trạng công tác quản lý vật tư phục vụ công tác bảo dưỡng máy bay tại Công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay trong giai đoạn 2017-2021; (2) Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý vật tư phục vụ công tác bảo dưỡng máy bay tại Công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay giai đoạn đến 2035. Vì thế, đề tài không thể trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố. Với các tài liệu tham khảo kể trên tác giả xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình và phát triển những ý tưởng sau quá trình nghiên cứu. Cơ sở lý luận về quản lý vật tƣ phục vụ bảo dƣỡng tại công ty 6 1.
Vật tư phục vụ bảo dưỡng và tính đặc thù của ngành bảo dưỡng máy bay 1. Vật tư và phân loại vật tư phục vụ bảo dưỡng Vật tư và vai trò của vật tư phục vụ bảo dưỡng Để có thể bảo dưỡng kinh doanh được ổn định, có nhiều yếu tố liên quan tới quá trình bảo dưỡng, trong đó đáp ứng đủ dụng cụ, thiết bị, có chất lượng chiếm vai trò hết sức quan trọng, là điều kiện tất yếu cho quy trình bảo dưỡng sản phẩm gọi chung là vật tư. Vật tư là những đối tượng được dự trữ cho hoạt động bảo dưỡng kinh doanh của công ty, hay nói cách khác vật tư là cái mà người lao động dùng sức lao động và công cụ lao động của mình tác động vào và biến chúng thành những sản phẩm hữu ích cho xã hội (Phạm Hữu Huy, 2018). Như chúng ta đã biết, vật tư là một bộ phận quan trọng của tư liệu bảo dưỡng.
Vậy, vật tư cũng là một bộ phận quan trọng trong công ty bảo dưỡng. - Vật tư là tư liệu cần quan trọng để bảo dưỡng ra sản phẩm hàng hóa. - Chất lượng của vật tư có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng của sản phẩm sẽ bảo dưỡng ra. Đây là một yếu tố khiến các nhà quản lý vật tư phải tính toán, xem xét cẩn thận khi xác định nguồn hàng cho mình.
Phân loại vật tư phục vụ bảo dưỡng Vật tư bao gồm nhiều loại khác nhau, để có thể quản lý một cách chặt chẽ người ta phân loại vật tư thành 3 loại: - Nguyên vật liệu - Công cụ, dụng cụ - Hàng hóa. Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động tham gia vào quá trình bảo dưỡng của công ty, bị biến đổi hoặc bị tiêu hao trong quá trình đó để tạo ra sản phẩm (Đồng Thị Thanh Hương, 2018). Căn cứ vào yêu cầu của bảo dưỡng, nguyên vật liệu được chia ra thành các loại sau: + Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. + Nguyên vật liệu phụ: Cũng là đối tượng lao động nhưng chỉ có tác dụng 7 phụ trong quá trình bảo dưỡng được sử dụng cùng với dụng cụ, thiết bị chính để làm thay đổi một số tính chất lý hoá của dụng cụ, thiết bị chính.