Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL; Chương 2. Thực trạng việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL vải Thiều Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang ; Chương 3. Một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, tự quản, kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL “Lục Ngạn” cho sản phẩm vải Thiều tỉnh Bắc Giang 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI CDĐL 1. Khái quát chung về Chỉ dẫn địa lý và Bảo hộ, Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL 1. Khái quát chung về CDĐL 1. Khái niệm CDĐL Thuật ngữ “Chỉ dẫn địa lý” đã được đề cập trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (“TRIPS”) tại khoản 1 Điều 22 như sau: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa có nguồn gốc từ lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ một khu vực hay địa phương trong lãnh thổ đó mà chất lượng, uy tín hay đặc tính khác của hàng hóa chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”.
Theo khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”. Khái niệm về CDĐL theo pháp luật hiện hành của Việt Nam là hoàn toàn tương thích với Điều 22.1 của Hiệp định TRIPS. * Khái niệm CDĐL: Chỉ dẫn địa lý là một yếu tố mà sản phẩm, hàng hóa được mang một cách tự nhiên, nói lên sự gắn kết của sản phầm với tên một miền lãnh thổ. Thường là gắn với truyền thống tập tục của địa phương từ tay nghề truyền thống của người dân địa phương, tạo nên sự khác biệt hay nổi tiếng của sản phẩm.
Theo định nghĩa của tổ chức thương mại thế giới (WTO): “CDĐL là một chỉ dẫn được dùng để xác định một hàng hóa có nguồn gốc từ lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng một địa phương của lãnh thổ đó, với điều kiện chất lượng, danh tiếng của sản phẩm hoặc các đặc điểm khá của sản phẩm mà chủ yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm này mang lại”. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chỉ dẫn địa lý là những từ, tên gọi dấu hiệu, biểu tượng, hình ảnh được sử dụng để chỉ ra rằng sản phẩm có nguồn gốc từ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trung về chất lượng, uy tín danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên. Tính chất đặc thù về danh tiếng của hàng hóa được biểu hiện bằng một hoặc một số yếu tố như chỉ tiêu định chính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học , vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật khoa học hoặc chuyên gia theo phương pháp thử được xác định cụ thể Danh tiếng uy tín của hàng hóa mang CDĐL thể hiện thông qua sự biết đến hàng hóa đó một cách rộng rãi trong giới tiêu dùng trong quá trình tồn tại và phát triển của sản phẩm Tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên được thể hiện thông qua các yếu tố độc đáo về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình và các điều kiện tự nhiên khác. Tính chất đặc thù về con người được thể hiện thông qua các yếu tố độc đáo về kĩ năng , kĩ xảo của người sản xuất, bao gồm cả quy trình sản xuất, truyền thống của người dân địa phương, nếu quy trình đó là nhân tố tạo ra và duy trì chất lượng , uy tín của sản phẩm.
Chỉ dẫn địa lí có thể là các dấu hiệu từ ngữ: Đó là các danh từ chung hoặc danh từ riêng chỉ tên của một địa danh cụ thể; Dấu hiệu là hình ảnh hoặc biểu tượng mô tả một khu vực địa lí. Đó là những hình ảnh đặc trưng của chỉ dẫn địa lí, cho khả năng phân biệt, nhận diện với sản phẩm cùng loại. Ví dụ như khi nhìn thấy logo Thanh Hà và Lục Ngạn dưới đây người đọc bằng trực quan có thể phân biệt được hai sản phẩm cùng loại nhưng của hai địa danh khác nhau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Quy định chung của pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lí Theo quy định tại Điều 79 Luật sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ khi đáp ứng được hai điều kiện : (i) sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý ;(ii) sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định. Điều kiện 1: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có nguồn gốc địa lí từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lí.
Có “nguồn gốc địa lí” dùng để chỉ khu vực, địa phương nơi hàng nông sản được sản xuất, gia công, chế biến từ khu vực địa lí đó. Ở đây, yếu tố quan trọng nhất đặt ra là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí phải liên quan đến khu vực địa lí, nếu sản phẩm được sản xuất tại khu vực địa lí khác sẽ không được như vậy. Theo thông tư số 01/2007/TT- BKHCN ngày 14/2/2007 thì phải tồn tại vùng địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí nêu trong đơn và sản phẩm phải có nguồn gốc địa lí từ vùng đó. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, hồ sơ đăng kí chỉ dẫn địa lí phải có bản đồ địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó.
Điều 83 Luật sở hữu trí tuệ quy định về khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí: “Khu vực địa lí mang chỉ dẫn địa lí có ranh giới được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đồ”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện 2: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lí của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó quyết định. Thứ nhất, về danh tiếng của sản phẩm: Theo quy định tại khoản1, Điều 81 Luật SHTT “ Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và lựa chọn sản phẩm đó”. Việc xác định danh tiếng của sản phẩm tương đối khó khăn do căn cứ vào “mức độ tín nhiệm” thông qua “mức độ rộng rãi của người tiêu dùng biết đến và lựa chọn sản phẩm” khi mà chưa có bất kì thước đo nào cũng như số liệu thống kê để xác định mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng.
Việc xác định danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí dựa trên thực tiễn chủ yếu thông qua: các yếu tố gắn với lịch sử, đặc tính khác biệt, nổi trội của sản phẩm mà các sản phẩm cùng loại không thể nào có được: Các yếu tố gắn với lịch sử: sản phẩm đó xuất hiện năm nào, nổi tiếng bởi sự kiện lịch sử nào hay được ghi lại trong một số văn bản lịch sử nào. Đặc tính khác biệt, nổi trội của sản phẩm thu hút người tiêu dùng mà các sản phẩm cùng loại không có được. Thông thường chất lượng, đặc tính nổi trội của hàng nông sản chính là do sản phẩm được người tiêu dùng biết đến rộng rãi và làm nên danh tiếng của sản phẩm. Thứ hai, về mặt chất lượng, đặc tính của sản phẩm Theo quy định tại Khoản 2, Điều 81 Luật SHTT “Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác định bằng một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp”.
Như vậy, chất lượng, đặc tính của sản 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm chủ yếu qua các yếu tố: chỉ tiêu vật lí, chỉ tiêu hóa học, cảm quan màu sắc, mùi vị: Chỉ tiêu vật lí: gồm các yếu tố khối lượng, thể tích, kích thước sản phẩm Chỉ tiêu hóa học: gồm các yếu tố như các chất đường, protein, nước, tinh dầu…tỉ lệ các chất trong một đơn vị khối lượng, thể tích sản phẩm… Cảm quan màu sắc, mùi vị: Thứ ba, danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính của hàng nông sản phải do điều kiện địa lí của khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó quyết định Các điều kiện địa lí này là những yếu tố tự nhiên, yếu tố con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí đó. Theo điều 82 Luật sở hữu trí tuệ bao gồm hai yếu tố: Yếu tố thứ nhất: yếu tố về tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác. Yếu tố thứ hai: yếu tố về con người bao gồm kĩ năng, kĩ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương. Trong đó yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tính chất, chất lượng đặc thù của các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí.
Cùng một giống cây nhưng chăm sóc, sinh trưởng ở khu vực khác nhau sẽ cho ra những sản phẩm mang chất lượng đặc tính khác nhau. Mặt khác dù điều kiện tự nhiên gần đồng nhất nhưng cách chăm sóc khác nhau cũng khiến cho sản phẩm có chất lượng khác nhau. * Địa vị pháp lí của chủ thể đối với chỉ dẫn địa lí Chủ sở hữu Theo điều 121 Luật sở hữu trí tuệ thì Nhà nước là chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lí. Chỉ dẫn địa lí không phải là do cá nhân, tổ chức sáng tạo ra mà đó là thành quả được tạo dựng qua nhiều thế hệ sản xuất sản phẩm ở địa phương; 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.