Chương 1, điều 4 mục 1 và 2 của Luật Công nghệ thông tin do Quốc hội khóa XI thông qua năm 2006 đã đưa ra khái niệm CNTT và thông tin số như sau: “ CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu nhập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. “ Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số[17]. Thực tiễn cho thấy, sự xuất hiện và phát triển của CNTT đã tác động đến mọi phương diện hoạt động của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Bách Khoa tri thức phổ thông “ việc sử dụng CNTT sẽ không còn gắn liền với cái ghế ngồi mà sẽ trở thành một bộ phận không tách rời của cuộc sống ngay trong lúc người ta đi lại quanh nhà,trong công sở hay bất kỳ một nơi nào khác.
Đó là thứ tin học khắp nơi, một bước ngoặt thực sự trong cách sống, làm việc và vui chơi của chúng ta”[1]. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 nước ta về cơ bản sẽ phải “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển tri thức”. Như vậy, có thể khẳng định CNTT đã xâm nhập vào mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của cuộc sống nhân loại. Cũng nhờ đó mà xã hội loài người bước sang một thờ kỳ mới – thời kỳ của xã hội tri thức/thông tin.
Ứng dụng công nghệ thông tin Theo giải thích khái niệm của Luật Công nghệ thông tin thì: Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này. Trong suốt hơn 40 năm qua, mục đích sử dụng công nghệ thông tin trong hệ thống sản xuất các sản phẩm và dịch vụ đã có nhiều sự thay đổi lớn lao. Các ứng dụng đầu tiên của CNTT trong những năm 1960 hướng đến các lợi thế về hiệu quả trong quá trình quản lý. Với công nghệ thông tin, các tính toán truyền thống được thực hiện nhanh, tin cậy và chính xác hơn nhiều.
Các máy móc tương đối rẻ hơn sẽ thay thế cho lao động của con người. Đến nay, CNTT đã xâm nhập hết sức sâu rộng vào quá trình kinh doanh, không chỉ là việc tự động hóa sản xuất và sản xuất linh hoạt, sự phát triển của hệ thống thông tin quản trị trở thành hệ thống hỗ trợ quyết định đem đến ngày càng nhiều lợi thế cạnh tranh cho tổ chức. Một cách khái quát, lợi thế cạnh tranh này có thể có được theo ba cách: Phát triển sản phẩm: đưa ra các sản phẩm hay dịch vụ mới trên thị trường. Các công nghệ chẳng hạn tự động hóa sản xuất dẫn đến cải tiến về gói sản phẩm hay dịch vụ.
22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển thị trường, nghĩa là vươn tới thị trường mới với các sản phẩm hay dịch vụ hiện tại. Với việc sử dụng các ứng dụng như telemarketing, có thể vươn tới các thị trường mới thông qua các kênh phân phối mới. Đa dạng hóa: đưa ra các sản phẩm hay dịch vụ mới trên các thị trường mới. Thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và thêm vào cho các sản phẩm hay dịch vụ hiện có một dịch vụ mới có thể tạo ra cho các khách hàng hiện tại.
Dịch vụ này cũng có thể tạo ra hấp dẫn để tổ chức có thể thâm nhập vào thị trường hoàn toàn mới. Nguyên tắc chung về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin - Tổ chức, cá nhân có quyền tiến hành các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; hoạt động phòng, chống lụt, bão, thiên tai, thảm họa khác, cứu hộ, cứu nạn và các hoạt động khác được Nhà nước khuyến khích. - Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động viễn thông, hoạt động phát thanh, truyền hình trên môi trường mạng phải thực hiện các quy định của pháp luật về viễn thông, báo chí và các quy định của Luật Công nghệ thông tin.
Điều 34 – Luật Công nghệ thông tin có quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cụ thể: - Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy, học, tuyển sinh, đào tạo và các hoạt động khác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên môi trường mạng. - Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động giáo dục và đào tạo trên môi trường mạng phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định của pháp luật về giáo dục. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm xây dựng, triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo. - Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện hoạt động giáo dục và đào tạo, công nhận giá trị pháp lý của văn bằng, chứng chỉ trong hoạt động giáo dục và đào tạo trên môi trường mạng và thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo trên môi trường mạng.
Khái niệm quản lý, quản lý ứng dụng công nghệ thông tin 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội.
Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lý dưới các góc độ khác nhau: Theo Kozlova OV: “Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ với kết quả tối ưu về kinh tế-xã hội”. Theo Harold Koontz (người Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và tác giả Nguyễn Quốc Chí: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức”[25]. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của hoạt động con người nhằm đạt tới mục đích đề ra” [13]. Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau nhưng tôi nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung đó là: “Quản lý là hoạt động tất yếu của những hệ thống có tổ chức, có kế hoạch, có định hướng, có mục đích phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động của toàn hệ thống đạt tới mục tiêu đã định”. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội.
Lĩnh vực này thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội và ngày càng phát triển. Nó hiện hữu trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Bởi lẽ, nó là loại hình hoạt động chuyên biệt nhưng lại ảnh hưởng tới toàn xã hội nói chung, tới mỗi bộ phận cấu thành của nó nói riêng. Do quản lý giáo dục có tính đa cấp nên nó là loại hình quản lý được đông đảo thành viên tham gia, hơn nữa, bản thân nó là hoạt động mang tính xã hội - nhân văn.
Vì vậy, cần phải đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa người dạy - người học, giữa cán bộ quản lý giáo dục với người học, rộng hơn là mối quan hệ nhà trường - gia đình - xã hội. Có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục, hiện nay các ý kiến cơ bản đồng nhất nhau về khái niệm quản lý giáo dục: “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các cơ Sở giáo dục khác) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh niên". “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất".
35] Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục ta có thể khái quát: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.