Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay, các nước trên thế giới đều khẳng định vai trò to lớn của CNTT trong GD&ĐT nói chung và trong quản lí dạy học nói riêng.
Tác giả Christ Abbott đã khẳng định: “ICT is changing the face of education - CNTT và truyền thông đang thay đổi bộ mặt của Giáo dục” [113, tr. Hiệu trưởng Saverius Kaka, trường SMA Tarsissius nói “Các nhà quản lí giáo dục cần phải khôn ngoan trong việc thực hiện các chiến lược để ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy và học tập”; Ông cũng cho rằng: “Ngày nay CNTT đã và đang phát triển rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ hệ thống giáo dục cần được cải cách và CNTT nên được tích hợp vào các hoạt động giáo dục” [132, tr. Tác giả David Mousund, thuộc bộ phận quản lí và chính sách đào tạo trường đại học Oregon Australia đã đưa ra nhận xét: “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” [115]. Với nhận định đó, chúng ta thấy rằng, một trong những trở ngại lớn của việc ứng dụng CNTT là kiến thức về CNTT của các nhà quản lí thường đi sau sự phát triển của công nghệ.
John Mcbeath and Kate Myer cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm” [118, tr. Đây có thể coi là hệ quả của chính sự ngần ngại của các nhà lãnh đạo khi ứng dụng CNTT. 12 Hai tác giả Marjolein Drent, Martina Meelissen University of Twente, P. Box 217, 7500 AE Enschede, The Netherlands đã có đề tài: Which factors obstruct or stimulate teacher educators to use ICT innovatively [122] (Những nhân tố cản trở hoặc kích thích giảng viên sử dụng CNTT sáng tạo).
Đề tài đề cập về các yếu tố kích thích cũng như những hạn chế trong việc sử dụng CNTT của các nhà giáo dục Hà Lan. Tác giả Andrew Jones thuộc British Educational Communications and Technology Agency (Beca), có đề tài: A Review Of The Research Literature On Barriers To The Uptake Of ICT By Teachers [111] (Một đánh giá về tổng quan nghiên cứu vào các rào cản về sự tiếp thu CNTT của giáo viên). Đề tài đã đưa ra dẫn chứng từ các nguồn nói về những rào cản trong nhận thức của các giáo viên về việc ứng dụng CNTT. Đó là: Thiếu tự tin và lo lắng của giáo viên về máy tính; thiếu năng lực về CNTT; thiếu phương pháp sư phạm trong việc ứng dụng CNTT; công tác quản lí, tổ chức yếu kém; chưa có phần mềm phù hợp; thiếu nguồn lực về CNTT; không có điều kiện truy cập Internet.
Xu hướng chung của các nước trên thế giới là: Tin học, ứng dụng CNTT đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm đưa vào trong các trường học và đã trở nên một vấn đề mang tính toàn cầu. CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy, cách học cho mọi cấp học. CNTT tạo điều kiện trong việc liên kết nghiên cứu khoa học. CNTT trong giáo dục sẽ là giải pháp chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức.
Về chương trình giảng dạy: CNTT được tích hợp trong các môn học trên phạm vi toàn quốc. Ở Hàn Quốc, CNTT được tích hợp từ 10% đến 20% trong các môn học, nhằm nâng cao kĩ năng tư cho học sinh. Ở Australia, CNTT tại các trường tiểu học đã được tích hợp hoàn toàn trong việc giảng dạy vào các môn học như Tiếng Anh, Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Y tế và Giáo dục thể chất, Ngôn ngữ, Xã hội và môi trường. Trong các trường THCS, CNTT được được tích hợp vào các môn học hoặc dạy như là một chủ đề riêng biệt.
Triển khai học E-Learning, dạy học online 13 ngày càng được sử dụng nhiều và đã phát huy hiệu quả. Các nước trên đã dùng các công nghệ hiện đại, đó là: công nghệ truyền thông đa phương tiện (Multimedia); công nghệ mạng (Network) và Internet. Về việc bồi dưỡng giáo viên, đây là một khâu quan trọng trong chương trình CNTT. Giống như dạy E-Learning, việc bồi dưỡng giáo viên đã áp dụng dưới hình thức online, tập huấn các kĩ năng sử dụng máy tính, hỗ trợ tốt nhất việc tích hợp CNTT trong các tài liệu và trong giảng dạy của các môn học.
Ở Úc, giáo viên được đào tạo về CNTT thường xuyên và mỗi giáo viên được trang bị một máy tính xách tay để sử dụng. Việc đào tạo cho giáo viên về CNTT ở Hàn Quốc là một hoạt động thường xuyên. Hàng năm, giáo viên được đào tạo và được cấp chứng nhận về CNTT chiếm 33%. Tại Thái Lan, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản, và Ấn Độ: chính sách phát triển CNTT trong giáo dục gắn với chính sách, kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia.
Đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT, đào tạo giáo viên, đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học học tập nhưng không hoàn toàn tích hợp CNTT trong một hoạt động giáo dục cụ thể nào đó. Việc dạy học trực tuyến (online) vẫn còn đang trong giai đoạn khởi đầu. Malaysia tiến hành xây dựng nhiều dự án thúc đẩy việc học trực tuyến. Ở Thái Lan và Indonesia, trường học điện tử đang trở thành phổ biến nhưng chỉ tập trung chủ yếu về số lượng, mà chưa coi trọng chất lượng.
Hai tác giả Christa S. Asterhan, Edith Bouton trường Giáo dục, Đại học Hebrew ở Jerusalem, Israel (2017) với nghiên cứu: Chia sẻ kiến thức qua mạng xã hội trong các trường trung học. Bài viết phân tích về cách thức giáo viên và học sinh đã sử dụng các công cụ CNTT cho các mục đích liên quan đến trường học. Các tác giả nêu rõ: “Các kết quả kết hợp từ các nghiên cứu này cho thấy cùng với việc giáo viên sử dụng thông tin mạng xã hội với học sinh của mình cho các mục đích xã hội và tâm lí học sư phạm, mà còn để hỗ trợ các hoạt động dạy học”.
Việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematics) tại 14 Canada đã đem lại kết quả nổi bật so với việc sử dụng sách giáo khoa truyền thống. Tuy nhiên các phần mềm mới chỉ đưa vào dạy học bộ môn toán. Một trong các nguyên nhân mà nền giáo dục của các nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có trình độ tương đương với các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đó chiến lược ứng dụng CNTT trong giáo dục, đặc biệt là việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lí. Ở các nước này, đã và đang xuất hiện một xã hội thông tin được nối mạng.
Ở đó việc học tập được tổ chức trên cơ sở một hệ thống thông tin cường độ cao, môi trường mạng máy tính kết nối đến từng giáo viên, từng học sinh. Khả năng học tập của học sinh được tăng cường với những mô hình dạy học rất mới và hiện đại. Qua thực tiễn ở các nước này, rút ra bài học kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở nhà trường đạt hiệu quả cao là: - Phải có cơ sở hạ tầng CNTT đảm bảo việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học và trong quản lí. Trường học được kết nối Internet tốc độ cao, phòng học phải được trang bị máy tính, Projector và các thiết bị CNTT khác, nhất là phòng đa phương tiện (Multimedia).
- Việc đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức và kĩ năng về CNTT cho giáo viên, cán bộ quản lí là một hoạt động liên tục và thường xuyên. Triển khai ứng dụng hình thức trực tuyến trong đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ về sự hiểu biết, kĩ năng sử dụng máy tính, tích hợp CNTT trong giáo án và trong giảng dạy của các môn học khác nhau; - Tăng cường sử dụng hình thức dạy học trực tuyến (online), dạy học điện tử (E-Learning); tăng cường dùng mạng trường học để trao đổi, hợp tác, chia sẻ giữa các trường trong các hoạt động ứng dụng CNTT. Như vậy các nghiên cứu ở nước ngoài đã có những công trình khoa học bàn về ứng dụng CNTT trong dạy học, ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục. Các công trình nghiên cứu đều xác định: Trong dạy học hiện đại, vai trò của CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học là xu hướng tất yếu.
Chính vì vậy ở các nước tiên tiến trên 15 thế giới đều đặt ra vấn đề cần phải đưa CNTT vào trong quá trình dạy học và coi là một trong những hình thức dạy học hiện nay. Tuy nhiên các nghiên cứu về ứng dụng CNTT ở trường THCS vẫn là quá ít so với những yêu cầu của công tác quản lí ứng dụng CNTT trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4. Nghiên cứu ở trong nước Việc nghiên cứu các xu hướng sử dụng công nghệ trong GD&ĐT đã được bàn đến trong nhiều công trình với các phạm vi khác nhau. Dựa trên tiêu chí coi CNTT với GD&ĐT là hai thành tố có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Tác giả Tô Xuân Giáp đã xác định 2 xu hướng chính sử dụng CNTT trong GD&ĐT. Đó là: CNTT vừa là phương tiện dạy học mới với nhiều ưu điểm và vừa là một ngành học với những đặc thù riêng theo sơ đồ sau đây: Sơ đồ 1. Công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo Nếu xét CNTT như là một hệ phương tiện dạy học đặt trong mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học thì hiện nay trên thế giới đang có 3 hướng sử dụng phương tiện này (3 xu hướng được minh hoạ trong sơ đồ 1.2): (1) CNTT đóng vai trò là phương tiện của người giáo viên. Trong đó giáo viên sử dụng CNTT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và trình bày bài giảng.
Hình thức dạy học vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt. Tương tác qua lại giữa giáo viên và học sinh là tương tác trực tiếp; (2) CNTT đóng vai trò là phương tiện dạy và học của thầy và trò. Trong đó, người giáo viên sử dụng CNTT để thiết kế bài dạy và các tài liệu hỗ trợ học tập, học sinh sử dụng CNTT là phương tiện để học. Hình thức dạy học này vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt.
Tương tác giữa giáo viên và học sinh là tương tác trực tiếp; (3) 16 CNTT chỉ là phương tiện của trò và là “môi trường” học tập mới, đó là một môi trường học tập ảo.