CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TẠP CHÍ KHOA HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin * Khái niệm công nghệ thông tin Với sự biến đổi không ngừng của các công nghệ kỹ thuật hiện đại ngày nay, CNTT là một trong các động lực quan trọng của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại.
“CNTT” là thuật ngữ để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin. Từ cách nhìn đó, CNTT bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống nội dung thông tin điện tử nhằm tổ chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người [4]. Theo Luật CNTT năm 2006“Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” (Khoản 1 Điều 4). * Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin Từ khi CNTT ra đời đến nay, thế giới đã có những chuyển dịch đáng kể về công nghệ.
Những chuyển dịch này làm cho việc xử lý thông tin tự động hiệu quả hơn, sử dụng các thiết bị tin học dễ dàng hơn, năng lực xử lý thông tin mạnh hơn và tin học, CNTT được ứng dụng rộng rãi hơn vào các lĩnh vực hoạt động của con người. Những chuyển dịch chủ yếu đó là: Từ kỹ thuật tương tự sang kỹ thuật số; từ công nghệ bán dẫn truyền thống sang công nghệ vi xử lý; từ kiểu tính toán trên máy chủ sang mô hình kiến trúc khách hàng/ dịch vụ; từ các kiểu 8 truyền thông dải rộng sang các kiểu xa lộ thông tin; từ các hệ dùng riêng đến các hệ thống mở; từ kiểu lập trình thủ công sang lập trình hướng đối tượng; từ giao diện đồ họa sang giao diện đa phương tiện, v. Khi nhắc đến ứng dụng CNTT, không thể không nhắc đến một số yếu tố như: máy tính điện tử; mạng máy tính và internet; trang web và thương mại điện tử. Máy tính điện tử và hệ thống viễn thông là những nhân tố chủ yếu và quan trọng nhất trong lĩnh vực CNTT.
Máy tính điện tử giúp con người tự động hóa công việc xử lý thông tin, còn sự phát triển viễn thông đã mở rộng giới hạn về không gian, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của con người. Ở Việt Nam thực sự mới bắt đầu triển khai ứng dụng CNTT từ những năm đầu của thập kỷ 1990. Máy vi tính không chỉ có mặt trong các công sở, các viện nghiên cứu mà còn có mặt trong tất cả các gia đình tại Việt Nam. Máy tính điện tử giúp con người xử lý thông tin một cách tự động, nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả cao.
Tốc độ xử lý của máy tính nhanh, bảo đảm chính xác, tính khách quan, bảo đảm bí mật và an toàn thông tin. Mạng máy tính là các máy tính được kết nối với nhau thành một hệ thống, theo một cách thức nhất định nhằm trao đổi thông tin. Mạng máy tính cung cấp một phương tiện mà qua đó các bộ xử lý, kho chứa dữ liệu, các thiết bị ngoại vi… được kết nối để các đơn vị, người sử dụng có thể trực tiếp trao đổi thông tin thông suốt với nhau trong cùng hệ thống mạng. Hiệu suất xử lý và trao đổi thông tin tăng hơn nhiều lần so với các máy tính riêng lẻ, độ bảo mật cao cho việc quản lý và lưu cất dữ liệu bằng các kho chứa dữ liệu trên mạng.
Internet là một thành quả to lớn do CNTT đem lại. Internet bao gồm một hệ thống liên kết nhiều mạng máy tính khác nhau trên toàn cầu. Internet như một thư viện khổng lồ, có thể truy cập vào kho dữ liệu này để tra cứu bất cứ một vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế. Lợi ích của Internet vô cùng lớn, cũng nhờ nó đã làm biến đổi sâu sắc quan niệm, phương thức hoạt động của ngành xuất bản.
Công nghệ Web: Web ra đời là một bước tiến lớn và có ý nghĩa quan trọng về công nghệ, phục vụ cho quá trình tìm kiếm thông tin nhanh, mạnh. 9 Web ra đời năm 1993 trên cơ sở liên kết hàng ngàn kho dữ liệu hiện có trên thế giới đã được kết nối vào Internet. Nhờ có Web, việc sử dụng Internet trở nên dễ dàng. Web giúp cho việc xuất bản tạp chí, sách báo dễ dàng, nhanh chóng vì có các thư viện ảnh và nguồn dữ liệu khổng lồ trên internet.
Cũng nhờ có Web, việc cung cấp thông tin trên mạng sẽ thuận tiện hơn. Thương mại điện tử ra đời như một sự tất yếu, là sự vận dụng thành công lợi ích của Internet đem lại. Các hình thức hoạt động chủ yếu của Thương mại điện tử gồm: thư điện tử, thanh toán điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử, bán lẻ hàng hóa hữu hình… Đối với mặt hàng sách, thương mại điện tử có vai trò rất quan trọng. Thương mại điện tử mặt hàng sách là toàn bộ các giao dịch thương mại bằng phương tiện điện tử, chủ yếu là mạng máy tính toàn cầu; các giao dịch đó là giới thiệu, chào hàng, thỏa thuận hợp tác, trao đổi dữ liệu, bán buôn v à bán lẻ mặt hàng sách, các chế độ hậu mãi khác.
Tại Việt Nam, thương mại điện tử mặt hàng sách thể hiện ở các hoạt động trên trang web như sau: Giới thiệu, tuyên truyền, quảng cáo NXB trên mạng; chào hàng, tiếp thị sách bao gồm những thông tin: t ên sách, số bản, số trang, ngày phát hành, nội dung chính, giá bán, cách thức bán; phương thức bán hàng: bán buôn thanh toán trực tiếp, bán lẻ qua thanh toán điện tử, giao h àng truyền thống tại nhà; liên kết liên doanh NXB với các doanh nghiệp khác, cả ở nước ngoài (xin bản quyền, hợp tác đào tạo, tham quan trao đổi…). CNTT là công nghệ tạo khả năng và có tác dụng tăng cường năng lực cho các công nghệ, công cụ và hoạt động hiện có. Chính vì vậy, từ khi ra đời, CNTT đã được ứng dụng liên tục vào các lĩnh vực khác nhau. Việc ứng dụng CNTT được coi như một quá trình lan tỏa đổi mới.
Theo Luật CNTT năm 2006, ứng dụng CNTT là “việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (Khoản 5 Điều 4). Tạp chí khoa học, hoạt động xuất bản tạp chí khoa học * Khái niệm Tạp chí khoa học 10 Các nhà nghiên cứu cho rằng: “Tạp chí khoa học xuất bản định kỳ là một trong những công cụ, phương tiện chủ yếu để phổ biến tri thức khoa học đặc biệt là trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Tạp chí khoa học được coi như một cổng thông tin quan trọng của một cơ sở giáo dục đại học để từ đây, xã hội và giới khoa học đều có thể nhận biết, “định dạng”, đánh giá năng lực, uy tín, thương hiệu, sự kết nối của cơ sở giáo dục đại học với các cá nhân, đơn vị liên quan nói riêng và xã hội nói chung [15]. Theo Điều 3 Luật Báo chí năm 2016 “Tạp chí khoa học là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ để công bố kết quả nghiên cứu khoa học, thông tin về hoạt động khoa học chuyên ngành”.
Tùy vào định hướng phát triển và chính sách của từng Tạp chí mà các bài báo đăng tải trên các Tạp chí khoa học có thể bao gồm nghiên cứu ban đầu, phân tích lại nghiên cứu, tổng kết các tài liệu nghiên cứu trong một lĩnh vực cụ thể, đề xuất các giả thuyết mới nhưng chưa được kiểm chứng hoặc ý kiến tranh biện khoa học. * Hoạt động xuất bản Tạp chí khoa học Theo Luật Xuất bản năm 2012 “xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện điện tử”. Theo đó, xuất bản không chỉ là việc in ấn sản phẩm trực tiếp lên giấy mà còn là việc công bố sản phẩm qua các phương tiện không sử dụng giấy như báo điện tử, đĩa CD v. Như vậy, xuất bản không tạo ra các tác phẩm nhưng sử dụng các tác phẩm văn hoá để truyền bá, phổ biến.
Nó là khâu nối tiếp, nâng cao các giá trị văn hoá, nhân rộng và mang chúng đến với quảng đại quần chúng trong xã hội với mục đích đáp ứng những nhu cầu văn hoá tư tưởng xã hội. Việc tổ chức sản xuất, lưu thông các xuất bản phẩm là phương thức, phương tiện hoạt động của sự nghiệp xuất bản. Xuất bản là một quá trình hoạt động nối tiếp, đồng bộ, hoàn chỉnh gồm 3 khâu: biên tập, in, phát hành các loại ấn phẩm trong xã hội. Quản lý, quản lý ứng dụng công nghệ thông tin * Khái niệm quản lý 11 Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm đảm bảo sự thống nhất và phục tùng trong quản lý. Quản lý có 4 chức năng là kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đaoh thực hiện và kiểm tra đánh giá hoạt động thực hiện kế hoạch. * Khái niệm quản lý ứng dụng công nghệ thông tin Quản lý ứng dụng CNTT là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
Quản lý ứng dụng CNTT xuất hiện ở bất kì lĩnh vực nào nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các đối tượng quản lý sử dụng có sử dụng CNTT. Quản lý tốt ứng dụng CNTT sẽ giúp cho các hoạt động được hiệu quả hơn.