CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÍ CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG Ở CÁC TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ban đầu, thuật ngữ tư vấn được sử dụng rất phổ biến. Sau này, để phân biệt rõ với các hình thức tư vấn pháp luật, tư vấn kinh tế.
trong một số tài liệu nó được gọi với cái tên cụ thể đó là TVTL. Tuy nhiên, người ta gặp một số khó khăn khi dịch thuật các khái niệm Counseling và Consultation sang tiếng Việt bởi chúng đều được dịch thành tư vấn và ngược lại. Theo các chuyên gia nước ngoài, đây là hai khái niệm khác biệt bởi sự khác nhau về phương pháp tiếp cận: người làm Consultation là cho đối tượng lời khuyên, chỉ bảo cho họ nên làm gì, còn khi thực hiện Counselling người cán bộ bằng mối quan hệ tương tác tích cực giúp đối tượng tự nhận thức và tự lựa chọn giải pháp phù hợp nhất đối với họ. Tại các hội thảo trong nước về tham vấn, phần đông cán bộ tư vấn có kinh nghiệm cũng ghi nhận rằng cách thức trợ giúp hiện nay thiên về khía cạnh tư vấn (Consultation) hơn là Counseling.
Các nhà nghiên cứu John L. Kachgal cho rằng TVTL và tư vấn học đường đã trở nên khá xa cách nhau mặc dù có chung lịch sử, có các giá trị tương tự, và thực tế là nhiều chương trình đào tạo cho hai ngành học cùng tồn tại trong cùng một khoa đại học hoặc cao đẳng. Tâm lí học tư vấn, với cam kết mạnh mẽ về tâm lí nghề nghiệp, đào tạo và giám sát tư vấn, đa văn hóa, phòng ngừa và nghiên cứu khoa học để gây ảnh hưởng lớn trong doanh nghiệp giáo dục. Các mô hình đào tạo cố vấn học đường và cung cấp dịch vụ gần đây đã được phát triển và mang đến nhiều cơ hội hợp tác giữa các nhà tâm lí học tư vấn và cố vấn học đường.
Một mô hình hợp tác bao gồm các chương trình đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ và kích thước tổ chức chuyên nghiệp của các chuyên ngành được mô tả một cách chi tiết. Những thách thức có thể cản trở sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa tâm lí tư vấn và tư vấn học đường, cũng như các đề xuất để giải quyết chúng, cũng 7 được thảo luận [35]. và Mary Ann Clark, Ph trong nghiên cứu của mình đã sử dụng một phương pháp lí thuyết có căn cứ để đánh giá các quan niệm về vai trò cố vấn học đường được tổ chức bởi 26 quản trị viên làm việc trong các trường tiểu học, trung học cơ sở hoặc trung học công lập. Nghiên cứu được thiết kế để xây dựng sự hiểu biết sâu sắc hơn về cách các nhà quản lí trường học nhận thức về vai trò của cố vấn trường học.
Trong đó, vai tro của nhân viên tư vấn được nhấn mạnh với các yêu cầu được trang bị cả về kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp để có thể đảm nhận chương trình tư vấn học đường [34]. Allan Wigfield, Susan L. Laurel Wagner thảo luận về sự phát triển tâm lí của HS trong những năm đầu của thanh thiếu niên, tập trung vào nghiên cứu về những thay đổi sinh học, nhận thức, bản thân HS. Nghiên cứu cũng thảo luận về sự ảnh hưởng của bạo lực học đường đối với thanh thiếu niên.
Các nghiên cứu trình bày về mối quan hệ tích cực giữa GV và HS, và cố vấn và HS có thể dễ dàng chuyển đổi. Nghiên cứu được trình bày cho thấy những tác động tích cực của các chương trình tư vấn được thiết kế để giúp HS dễ dàng chuyển sang học trung học cơ sở, cùng với các đề xuất tái cơ cấu vai trò của các cố vấn trung học để đáp ứng nhu cầu phát triển của thanh thiếu niên sớm. Ervin, and Gretchen Gimpel Peacock trong cuốn sách của mình đã trình bày các định nghĩa khác nhau của tâm lí học đường và các lĩnh vực TVTLHĐ; Mô tả Đặc điểm chung của nhà tâm lí học bao gồm các khía cạnh như số lượng và vị trí của các cá nhân làm việc trong lĩnh vực này, các tổ chức chuyên nghiệp và trình độ đào tạo. Cuốn sách trình bày tổng hợp các khía cạnh của các cá nhân làm việc trong tâm lí học.
Những khía cạnh nghề nghiệp cho thấy sự đa dạng, sức mạnh, sáng tạo và thách thức trong nghề. Tác giả Elias Zambrano, Felicia Castro-Villarreal, and Jeremy Sullivan University of Texas at San Antonio trong công trình School Counselors and School Psychologists: Partners in Collaboration for Student Success Within RTI and CDCGP Frameworks đi sâu nghiên cứu về vai trò ban đầu của cố vấn trường học và 8 nhà tâm lí học trường học là nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần cho HS. Théo các tác giả này, để công tác hỗ trợ HS về sức khỏe tâm thần được tốt, nhà quản lí phải quan tâm đến vai trò của hai đối tượng chính là cố vấn trường học và nhà tâm lí học trường học. Họ là những người trực tiếp làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người học và đây là công việc chính của họ ở trường học.
Họ không phải là GV [35]. Markie Falotico đã thiết kế bộ công cụ để kiểm tra việc sử dụng thời gian của các nhà tâm lí học ở trường từ đó xác định hoạt động nào đòi hỏi nhiều thời gian nhất. Kết quả chỉ ra các nhà tâm lí học ở trường dành phần lớn thời gian của họ để đánh giá và đánh giá lại nhiều hơn là các hoạt động tư vấn hỗ trợ HS. Kết quả này cho thấy một số hoạt động trong nhà trường có thể mất một lượng thời gian không tương xứng và thời gian cho hoạt động hỗ trợ tâm lí HS ít được nhà trường quan tâm [40].
Có thể thấy rằng các công trình trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của ngành TVTLHĐ cũng như các vấn đề về việc quản lí hoạt động này ở các trường học. Các công trình đều nhấn mạnh một nhà trường tốt là ở đó người quản lí phải quan tâm đến vai trò của nhà hỗ trợ tâm lí học đường. Nhà quản lí phải cung cấp cho họ sinh những thông tin về nhà hỗ trợ tâm lí học đường, đây là những người không làm nhiệm vụ dạy học. Điều này thể hiện sự khác biệt rõ nét về công tác quản lí hoạt động TVTL giữa nước ngoài và Việt Nam 1.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Xu hướng nghiên cứu kĩ năng tương tác như những kĩ năng tư vấn cơ bản được phát triển trong giai đoạn về sau là cơ sở để ứng dụng tư vấn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có TVTL cho HS tại các trường PTDTNT. Chúng tôi nghiên cứu quản lí hoạt động TVTL cho HS theo hướng tiếp cận này. Tác giả Nguyễn Thị Oanh trong chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh khởi xướng cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo HS, phụ huynh và các trường học. Tháng 6 năm 2006, cuốn sách “TVTL học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát 9 hành trên toàn quốc.
Tác giả Lê Thục Anh trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: Ngày nay, vai trò của tâm lí học đã được thừa nhận trong việc trợ giúp HS vượt qua những vấn đề về hành vi và học tập. Song thực tế hoạt động trợ giúp tâm lí trong nhà trường chưa trở thành một hoạt động mang tính phổ biến và chuyên nghiệp. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế này là sự thiếu vắng các điều kiện cần thiết để chính thức hóa đội ngũ làm công tác trợ giúp tâm lí trong các nhà trường phổ thông cả về số lượng lẫn chất lượng. Bài viết này bàn về sự cần thiết của hoạt động trợ giúp tâm lí cũng như đội ngũ làm công tác này trong các nhà trường phổ thông hiện nay.
Tác giả Vũ Thị Mỹ Lệ trong luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên” đã cho rằng: Đối với HS phổ thông các trường DTNT, việc quản hoạt động tư vấn giáo dục, trong đó có TVTL là vô cùng cần thiết. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Biên về “Quản lí hoạt động TVTL học đường ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn” đã đề xuất một số biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động này trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn [4]. Tác giả Lí Chủ Hưng, Kiến Văn đã đi sâu phân tích các nội dung về TVTL học đường như: Những khó khăn của HS, những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn, những điểm mạnh và điểm yếu của đội ngũ tư vấn viên. Công trình tập trung khai thác sâu về đặc điểm tâm lí của HS trê cơ sở đó xác định những khó khăn tâm lí của HS cần được trợ giúp.
Tác giả Trương Thị Hằng trong công trình nghiên cứu của mình đã phân tích là rõ thực trạng quản lí hoạt động TVTL cho HS THPT Đinh Tiên Hoàng, Ba Đình. Tác giả cũng đề xuất 4 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động TVTLHĐ [14]. Tác giả Đặng Thị Bích Nga lại tiếp cận ở khía cạnh tham vấn tâm lí. Tác giả cho rằng: Bên cạnh những nội dung quản lí đã thực hiện tốt, việc quản lí hoạt động tư vấn học đường của Hiệu trưởng các trường THCS quận 11, thành phố Hồ Chí Minh 10 vẫn còn tồn tại những hạn chế như: việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐTVHĐ còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa chú trọng đến chuyên ngành của người được tuyển dụng làm công tác TVTL học đường, chế độ chính sách cho tham vấn viên và những người làm công tác tham vấn chưa phù hợp, cơ sở vật chất của các phòng tham vấn vẫn chưa được đầu tư đúng mức, chưa thường xuyên chủ động tìm hiểu vấn đề của HS khi xây dựng nội dung tham vấn.
Những hạn chế trong công tác quản lí hoạt động TVHĐ chủ yếu là do nhận thức của CBQL các cấp, các ban ngành về HĐTVHĐ vẫn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất dẫn đến việc quản lí còn mang tính chủ quan, thụ động. Những hạn chế này là cơ sở để hiệu trưởng các trường này đề xuất những biện pháp quản lí hiệu quả.