CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học là vấn đề luôn được quan tâm nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn. Song ở mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề tự học được đề cập đến ở những góc độ khác nhau. Thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên), Nhà giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học.
Khi nói về cách học, ông cho rằng cách học đúng là: “học suy nghĩ phải phù hợp với nhau và coi trọng cả hai”. Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc Jan Amos Komenxki (1592 - 1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng”. Năm 1657, ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” trong đó nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ”. 40] Ở Việt Nam, hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam là một tấm gương sáng về tinh thần tự học. Tư tưởng của Người về giáo dục đã được vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học… nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học”. [9] Vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau.
Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành ở người học kỹ năng tự học. Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học của sinh viên. Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt được những thành tựu nhất định về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của từng trường.
Cho đến nay việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại HV Công nghệ BCVT còn nhiều vấn đề bất cập. Khi tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đã đề cập tới và tiếp tục đề xuất một số biện pháp khả thi mới để công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại HV Công nghệ BCVT tốt hơn. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quản lý Thuật ngữ “Quản lý” (theo tiếng Việt gốc Hán) bao gồm từ “quản” là coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”.
Như vậy, trong hoạt động quản lý, việc bảo quản giữ gìn và làm cho phát triển là hai mặt của một vấn đề. Nếu chỉ chú trọng “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì phát triển không bền vững. Quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn. Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau: Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đính nhất định.
Theo tác giả Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuât, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”. 32] Một số khái niệm khác: Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5, tr.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. 7] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [24, tr. 24] Theo tác giả Phạm Viết Vượng:“Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [31, tr.
40] Tác giả Trần Kiểm khẳng định:“Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [16, tr. 8] Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt mục tiêu. Quản lý được hiểu ở những góc độ khác nhau, song vẫn được thống nhất: là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý (người quản lý) nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý (người bị quản lý) để đạt được mục tiêu quản lý. Từ các quan niệm về quản lý nói trên, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra.
Các chức năng quản lý Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa của hoạt động quản lý. Nó là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân chia các chức năng QL, song về cơ bản đều thống nhất toàn bộ quá trình quản lý được thực hiện thông qua 4 chức năng QL đó là: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. * Lập kế hoạch Lập kế hoạc là chức năng cơ bản nhất của các chức năng quản lý.
Trên cơ sở phân tích trạng thái xuất phát, tiềm năng đã có và khả năng trong tương lai để xác định rõ mục tiêu trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý. Lập kế hoạch bao gồm: - Dự báo nhu cầu phát triển; - Đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức; - Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đã đề ra. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Tổ chức Tổ chức thực hiện kế hoạch được xác lập là quá trình sắp xếp, phân phối các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con người, những công việc hợp lý, là sự phối hợp để tạo lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức. Công tác tổ chức có các nhiệm vụ chính dưới đây: - Thiết lập bộ máy quản lý; - Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy; - Phối hợp giữa các bộ phận để hình thành cơ chế vận hành tổ chức bộ máy và của cả hệ thống.
* Chỉ đạo Chỉ đạo là quá trình tác động đến con người bằng mệnh lệnh, làm cho người dưới quyền phục tùng và làm việc đúng với kế hoạch, đúng với nhiệm vụ được phân công. Tạo động lực để con người tích cực hoạt động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng, kể cả trách phạt. Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm: - Chỉ huy, ra lệnh; - Động viên, khen thưởng; - Theo dõi, giám sát; - Uốn nắn, sửa chữa và điều chỉnh. * Kiểm tra Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu, kế hoạch đã định.
Nó chỉ ra những chỗ tồn tại, tìm ra nguyên nhân những sai sót, lệch lạc, những vấn đề mới nảy sinh để điều chỉnh giúp đảm bảo kế hoạch đề ra. Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý. Có ba yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xây dựng những chuẩn mực đối với các hoạt động; - Đối chiếu, đánh giá mức độ đạt được so với chuẩn mực đặt ra; - Điều chỉnh lại những chuẩn mực nếu cần. Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong khoảng thời gian, không gian xác định.