Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại Chương II: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương III: Thực trạng quản lý hoạt động tín dụng tại BIDV Bắc Ninh. Chương IV: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tín dụng tại BIDV Bắc Ninh. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận của hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tƣởng, tín nhiệm). Trong thực tế thì thuật ngữ này đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Xét trên giác độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dƣ tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng đƣợc coi là phƣơng pháp chuyển dịch quỹ từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay. Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.
Nhƣ vậy có nhiều cách hiểu về "tín dụng". Căn cứ vào hai tiêu thức là chủ thể và đối tƣợng tín dụng thì quan hệ tín dụng gồm có các loại hình: tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế. Trong mỗi loại hình này, tín dụng lại đƣợc phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tín dụng Ngân hàng là mối quan hệ vay mƣợn bằng tiền tệ, hàng hoá và dịch vụ theo nguyên tắc hoàn trả giữa một bên là Ngân hàng và một bên là các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cƣ.
Theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thƣơng mại, điều 4 ghi: "Ngân hàng thƣơng mại đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc".1 1 Điều 4, Nghị định Chính phủ về tổ chức hoạt động Ngân hàng thƣơng mại 6 1. Đặc điểm hoạt động tín dụng NHTM Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại có 4 đặc trƣng sau: Thứ nhất, tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền. Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cở sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lƣỡng trƣớc khi quyết định cho vay.
Thứ ba, Giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói các khác là ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. Thứ tư, trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng nhƣ hợp đồng tín dụng, khế ƣớc…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán 1. Phân loại tín dụng NHTM * Phân loại tín dụng theo loại khách hàng đi vay: Cấp tín dụng cho doanh nghiệp: Ngân hàng cấp tín dụng cho những tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Quy mô của hầu hết các khoản vay này là lớn, lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trƣờng. Cấp tín dụng cho cá nhân: các cá nhân sử dụng vốn vay từ ngân hàng nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng nhƣng chủ yếu là để tiêu dùng. Quy mô khoản tín dụng thƣờng nhỏ hơn so với các khoản cấp cho các doanh nghiệp và lãi suất thƣờng cao hơn. Cấp tín dụng cho các đơn vị khác: các đơn vị nhƣ các tổ chức xã hội cũng cần vốn với nhiều mục đích khác nhau, để giải quyết sự thiếu hụt vốn, họ cũng có thể vay từ ngân hàng.
7 * Phân loại tín dụng theo đối tượng cấp tín dụng: Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng đƣợc cấp để hình thành vốn lƣu động của các tổ chức kinh tế nhƣ cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay sản xuất… Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng đƣợc cấp để hình thành vốn cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. Vì vậy thời gian cho vay đối với loại hình tín dụng này là trung và dài hạn. * Phân loại tín dụng theo tính chất đảm bảo: Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp: Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thƣờng yêu cầu khách hàng của mình phải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp. Và trên nguyên tắc thì mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo.
Tín dụng không đảm bảo bằng tài sản (Gồm: tín chấp và bảo lãnh bằng uy tín): tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể đƣợc cấp cho các khách hàng có uy tín, trung thực trong kinh doanh, thƣờng là khách hàng làm ăn thƣờng xuyên, có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dƣa, hoặc món vay tƣơng đối nhỏ vo với vốn của khách hàng vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đốn với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc những khoản cho vay mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng. cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
* Phân loại tín dụng theo mục đích cấp tín dụng Cho vay kinh doanh: các cá nhân, tổ chức vay vốn từ ngân hàng để mở rộng sản xuất; đầu tƣ vào các ngành, lĩnh vực mới. nhằm tăng lợi nhuận, nâng cao doanh số. Cho vay tiêu dùng: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những ngƣời đi vay trang trải nhu cầu nhà ở, đồ 8 dùng gia đình, xe cộ, giáo dục.
Việc cho vay tiêu dùng giúp các ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng đồng thời tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng. Với ngƣời tiêu dùng, nhờ vay tiêu dùng mà họ đƣợc hƣởng các tiện ích trƣớc khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn là nó rất cần thiết cho những trƣờng hợp khi các cá nhân cần các chi tiêu cấp bách nhƣ nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế. * Phân loại tín dụng theo thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lƣu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không có tài sản đảm bảo, dƣới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm (theo quy định của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam), tài trợ cho các tài sản cố định. Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời hạn trên 5 năm, tài trợ cho công trình xây dựng nhƣ nhà, sân bay, cầu, đƣờng, máy móc thiết bị có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu. * Phân loại tín dụng theo phương pháp hoàn trả Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ, cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ. Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Đối với loại tín dụng cho vay này ngân hàng có thể yêu cầu hoặc ngƣời đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhƣng phải báo trƣớc một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thảo thuận trong hợp đồng.
9 * Phân loại tín dụng theo xuất xứ tín dụng Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu vốn đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Tín dụng gián tiếp: Là loại hình cho vay đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ƣớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các ngân hàng thƣơng mại thƣờng cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết khấu thƣơng phiếu, mua các phiếu bán hàng, bao thanh toán (mua các khoản phải thu). Vai trò của hoạt động tín dụng NHTM 1.
Vai trò đối với Ngân hàng Thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng sẽ có nhiều cơ hội để cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, từ đó tạo điều kiện tăng thu dịch vụ và thu hút đƣợc thêm nhiều khách hàng, tạo uy tín của ngân hàng do sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ. Tín dụng đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển lâu dài của ngân hàng bởi vì nó cho phép ngân hàng có những khách hàng truyền thống. Và do đó, tín dụng sẽ làm tăng lợi nhuận của các NHTM, tăng thu nhập và ổn định việc làm cho ngƣời lao động trong Ngân hàng. Vai trò đối với Doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển trong thị trƣờng đầy biến động nhƣ hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tƣ thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất.
Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải huy động một lƣợng vốn khá lớn. Lƣợng vốn đó có thể đƣợc huy động từ: cán bộ trong doanh nghiệp, từ thị trƣờng chứng khoán và một phƣơng thức huy động vốn quan trọng mà các doanh nghiệp hay sử dụng là vay vốn của các NHTM.