CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP ĐIỆN LỰC 1. Tổng quan về tiền lương tại doanh nghiệp điện lực 1. Doanh nghiệp điện lực Theo Luật Điện lực: “Đơn vị điện lực là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực, bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và những hoạt động khác có liên quan” (Quốc hội, 2004).
Doanh nghiệp điện lực là một trong những đơn vị điện lực theo định nghĩa trên. Doanh nghiệp điện lực là doanh nghiệp thực hiện hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực (nếu có), bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và những hoạt động khác có liên quan. Theo phạm vi sản phẩm ngành điện, đề án này tập trung vào doanh nghiệp phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện. Tiền lương tại doanh nghiệp điện lực Khái niệm tiền lương Nguyễn Ngọc Quân (2018) đã khái niệm: “Tiền lương là số tiền trả cho người lao động một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị thời gian (tuần, tháng, năm)”.
Định nghĩa này tập trung vào giá trị, tính cố định, thường xuyên của tiền lương và chu kỳ tính lương. Quốc hội (2019) đã khái niệm: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Định nghĩa này tập trung vào sự thỏa thuận giữa người trả và người được trả lương, các cấu phần của tiền lương. Đề án này định nghĩa, tiền lương tại doanh nghiệp điện lực là khoản tiền cố định, thường xuyên, bao gồm mức lương theo tính chất công việc, theo chức danh, theo cống hiến và kết quả hoàn thành công việc của người lao động, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, được doanh nghiệp điện lực cam kết trả cho người lao động trong một đơn vị thời gian làm việc theo hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp và người lao động.
5 Phân loại tiền lương tại doanh nghiệp điện lực Căn cứ vào tiêu chí để tính trả lương Tiền lương tại doanh nghiệp điện lực gồm lương thời gian, lương sản phẩm và lương khoán (Nguyễn Ngọc Quân, 2018). Ngoài ra các doanh nghiệp điện lực hiện nay áp dụng tính lương theo vị trí chức danh, lương theo năng lực cần thiết để thực hiện công việc, lương theo kết quả công việc đã đạt được của người lao động. Về bản chất, lương theo kết quả công việc đã đạt được của người lao động chính là lương theo sản phẩm với những cách xác định kết quả công việc khác nhau ở các vị trí công việc khác nhau trong doanh nghiệp. Lương theo thời gian: Mục tiêu khuyến khích người lao động làm việc hoàn thành công việc theo tiêu chuẩn quy định trong thời gian quy định, hoặc làm thêm giờ khi phát sinh công việc.
Căn cứ trả lương là thời gian làm việc, đơn vị thời gian là theo giờ làm việc, theo ca làm việc, theo ngày, tuần, quý, tháng. Lương theo thời gian không khuyến khích tăng năng suất và cải thiện kết quả công việc nên chỉ áp dụng đối với các vị trí công việc mà khó định lượng được khối lượng công việc, chất lượng công việc đã thực hiện. Lương theo sản phẩm/theo kết quả công việc: Mục tiêu là khuyến khích người lao động cải thiện hiệu suất công việc, chất lượng công việc. Căn cứ tính lương là kết quả công việc đạt chỉ tiêu, vượt chỉ tiêu.
Kết quả công việc có thể là sản phẩm đã sản xuất, lượng hàng đã bán được, số công đoạn công việc đã hoàn thành, số km vận chuyển hàng đã thực hiện…“Lương theo sản phẩm có các dạng như lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân, lương theo sản phẩm tập thể, lương theo sản phẩm gián tiếp, lương theo sản phẩm có thưởng”. Lương khoán: Mục tiêu là khuyến khích người lao động hoàn thành một khối lượng công việc, sản phẩm cụ thể, đáp ứng yêu cầu chất lượng. Người lao động có thể chọn thời gian, cách làm việc miễn sao họ hoàn thành khối lượng và chất lượng. Lương khoán sử dụng khi việc chi tiết công việc theo thời gian, theo sản phẩm là tương đối khó.
Lương theo vị trí, chức danh công việc: Căn cứ tính lương là theo tầm quan trọng vị trí công việc trong doanh nghiệp. Vị trí càng quan trọng thì lương càng cao. Tầm quan trọng của vị trí công việc thể hiện qua tác động của vị trí này đến các vị trí khác trong doanh nghiệp. Giám đốc thì quan trọng hơn trưởng phòng và sẽ nhận lương cao hơn.
Doanh nghiệp điện lực quy định hệ số vị trí công việc để làm căn cứ tính lương. Lương theo năng lực thực hiện công việc: Căn cứ tính lương là theo tầm quan trọng của năng lực thực hiện công việc và tính hiếm có hay sẵn có của loại năng lực đó 6 trên thị trường lao động. Doanh nghiệp điện lực trả lương cho lao động có năng lực công nghệ thông tin cao hơn so với lao động thiếu năng lực này nếu thị trường hiện thiếu lao động có năng lực công nghệ thông tin, hơn nữa đây có thể là năng lực đang rất thiếu hụt tại doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp điện lực áp dụng thêm lương theo thâm niên công tác, lương theo giới tính, lương theo độ tuổi.
Căn cứ vào đối tượng trả lương Lương trả cho người lao động bao gồm lương cá nhân và lương tập thể. Một số doanh nghiệp áp dụng lương khoán theo tập thể nếu việc tính lương cho từng cá nhân phức tạp, khó tách bạch hoặc công việc chỉ có thể hoàn thành nếu có sự phối hợp của cả tập thể. Quản lý tiền lương tại doanh nghiệp điện lực 1. Khái niệm và mục tiêu quản lý tiền lương Khái niệm quản lý tiền lương Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đỗ Thị Hải Hà (2018) khái niệm: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích, mục tiêu của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động”.
Quản lý tiền lương tại doanh nghiệp điện lực là việc bộ máy quản lý của doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ lập kế hoạch tiền lương, tổ chức thực hiện kế hoạch tiền lương và kiểm soát về tiền lương nhằm đảm bảo tiền lương mà người lao động nhận được tiền lương phù hợp có tác dụng khuyến khích họ nâng cao năng suất lao động và chất lượng công việc. Bộ máy quản lý tiền lương là bộ máy quản lý của doanh nghiệp điện lực. Đối tượng quản lý tiền lương là các cá nhân, bộ phận tham gia vào các nhiệm vụ tính lương, trả lương cho người lao động. Mục tiêu quản lý tiền lương Mục đích Quản lý tiền lương tại doanh nghiệp điện lực góp phần nâng cao mức sống của người lao động, góp phần tạo sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp, góp phần cải thiện kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
7 Mục tiêu Quản lý tiền lương tại doanh nghiệp điện lực đảm bảo người lao động có động lực trong công việc: hoàn thành, vượt mức chỉ tiêu được giao; cải thiện chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm dịch vụ do họ thực hiện; hài lòng với tiền lương tại doanh nghiệp. Quản lý tiền tại doanh nghiệp điện lực theo đúng luật lao động và các quy định pháp luật về tiền lương, thống nhất với chính sách tiền lương của tập đoàn, tổng công ty điện lực. Bộ máy quản lý tiền lương a. Cơ cấu bộ máy quản lý tiền lương Các doanh nghiệp điện lực độc lập có bộ máy quản lý tiền lương tương đối đơn giản, cơ cấu bộ máy quản lý tiền lương phải có các bộ phận chức năng tham mưu quản lý tiền lương cho ban giám đốc doanh nghiệp.
Trước hết là bộ phận nhân lực theo dõi, phân loại lao động, kết quả lao động, tham mưu quy chế tiền lương, kế hoạch lương, đánh giá lao động và tính toán tiền lương, tham gia giám sát, đánh giá thực hiện thực hiện quy chế tiền lương, kế hoạch lương. Tiếp đến là bộ phận Tài chính Kế toán phối hợp trong tính toán tiền lương, phối hợp xây dựng và quy chế tiền lương, kế hoạch lương, chi trả tiền lương, tham gia giám sát, đánh giá thực hiện thực hiện quy chế tiền lương, kế hoạch lương. Các vị trí chịu trách nhiệm trong ban hành các quyết định liên quan đến tiền lương, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tiền lương là giám đốc và các phó giám đốc doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có nhiều doanh nghiệp con trực thuộc, bộ máy quản lý tiền lương phức tạp hơn với ba cấp bộ máy quản lý tiền lương của tổng công ty, bộ máy quản lý tiền lương của doanh nghiệp con và quản lý tiền lương của doanh nghiệp con cấp 2 và các chi nhánh (nếu có).
Trong đó, quản lý tiền lương sẽ được phân cấp giữa các cấp quản lý. Tổng công ty quyết định chính sách tiền lương và đánh giá, điều chỉnh chính sách tiền lương. Doanh nghiệp con quyết định quy chế tiền lương căn cứ chính sách tiền lương của tổng công ty. Các chi nhánh chủ yếu giao chỉ tiêu kết quả công việc, theo dõi, đánh giá, chi trả lương theo quỹ lương phân cấp và quy chế tiền lương.
Nhân lực quản lý tiền lương Quản lý tiền lương tại doanh nghiệp điện lực đòi hỏi người quản lý đạt được những yêu cầu nhất định: 8 Thứ nhất, họ cần hiểu biết về đặc điểm công việc của người lao động, các vị trí công việc, tính chất công việc, sản phẩm công việc của các vị trí trong doanh nghiệp điện lực. Thứ hai, họ hiểu biết về pháp luật lao động, hợp đồng lao động, kiến thức về tiền lương, cách tính lương tại các doanh nghiệp. Thứ ba, họ phả có năng lực quản lý chung và năng lực quản lý tiền lương: Lập kế hoạch tiền lương, tổ chức thực hiện kế hoạch tiền lương và kiểm soát về tiền lương. Thứ tư, họ phải có phẩm chất quản lý và có trách nhiệm cao với người lao động, ý thức chấp hành pháp luật tốt.
Muốn đạt được những yêu cầu trên người quản lý cần được đào tạo từ ngành quản lý nhân lực, tài chính, kế toán; Được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý tiền lương, bồi dưỡng về nghiệp vụ kế toán, tài chính.