Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011-2015, khu vực doanh nghiệp tư nhân đã khẳng định vị thế nòng cốt trong nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp khoảng 30% GDP, 40% giá trị sản xuất công nghiệp và tạo ra 1,5 triệu việc làm mới mỗi năm. Tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, làn sóng phát triển kinh tế ghi nhận sự gia tăng vượt bậc về số lượng doanh nghiệp từ 500 đơn vị năm 2011 lên 1.152 đơn vị năm 2015, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn huyện đạt 27%/năm.

Tuy nhiên, công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khu vực ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Mê Linh vẫn bộc lộ nhiều lỗ hổng nghiêm trọng. Mặc dù tổng số thu ngân sách từ khu vực này tăng từ 150.450 triệu đồng năm 2011 lên 267.309 triệu đồng năm 2015, tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp trong tổng nguồn thu lại sụt giảm từ 8,6% năm 2013 xuống còn 8,4% năm 2015. Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể hoặc bỏ trốn năm 2015 chiếm tới 24,8% trên tổng số doanh nghiệp được cấp mã số thuế.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề thất thu thuế thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thu nộp và kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Mê Linh giai đoạn 2011-2015. Mục tiêu cụ thể là nhận diện các thủ đoạn che giấu doanh thu, hạch toán sai chi phí được trừ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thuế giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ ngành thuế kiểm soát 100% người nộp thuế phát sinh và tối ưu hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết tuân thủ thuế và Lý thuyết quản lý tài chính công hiện đại để xây dựng khung phân tích toàn diện. Theo đó, hệ thống quản lý thuế được tiếp cận dựa trên cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp gắn liền với việc phân loại mức độ rủi ro của người nộp thuế.

Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của các tổ chức sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế, áp dụng mức thuế suất phổ thông 20% từ năm 2016. Doanh nghiệp tư nhân trong nghiên cứu bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân theo Luật Doanh nghiệp.

Mô hình đánh giá hiệu quả quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp được cấu thành từ 4 chỉ tiêu trọng yếu:

  • Tỷ lệ số lượt người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ trên tổng số đối tượng quản lý.
  • Tỷ lệ chi phí hành chính phục vụ công tác quản lý trên tổng số thuế thu được.
  • Tỷ trọng số thuế thu nhập doanh nghiệp của khu vực tư nhân trên tổng thu ngân sách.
  • Tỷ lệ nợ đọng thuế trên tổng số thuế ghi thu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ hệ thống quản lý đăng ký thuế, các báo cáo tổng kết thu ngân sách giai đoạn 2011-2015 và biên bản thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Mê Linh.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu khảo sát toàn bộ dữ liệu của 1.152 doanh nghiệp tư nhân được cấp mã số thuế trên địa bàn huyện Mê Linh. Đồng thời, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với 15 doanh nghiệp có rủi ro cao thuộc 4 nhóm ngành kinh tế trọng điểm (xây dựng, thương mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, nông lâm thủy sản) để phân tích chi tiết hồ sơ kê khai quyết toán thuế.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm làm rõ sự biến động của nguồn thu trong mối tương quan với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đồng thời bóc tách chính xác các sai phạm đặc thù về doanh thu và chi phí của 68 cán bộ công chức thuộc 8 đội thuế tại Chi cục Thuế huyện Mê Linh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ phát triển số lượng doanh nghiệp không đồng thuận với tỷ trọng đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh từ 820 đơn vị năm 2013 lên 984 đơn vị năm 2014 và đạt 1.152 đơn vị năm 2015 (trong đó có 623 công ty TNHH và 489 công ty cổ phần). Tuy nhiên, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 đạt 19.729 triệu đồng (chiếm 8,6%), năm 2014 đạt 21.233 triệu đồng (chiếm 8,5%) và năm 2015 đạt 22.579 triệu đồng (chỉ chiếm 8,4% tổng thu từ khu vực tư nhân). Dữ liệu này được thể hiện rõ qua bảng thống kê cơ cấu nguồn thu qua các năm tài chính.

Thứ hai, tình trạng doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể diễn biến phức tạp. Năm 2013 có 168 doanh nghiệp ngừng hoạt động (chiếm 20,5%), năm 2014 là 229 doanh nghiệp (chiếm 23,3%) và năm 2015 tăng lên 285 doanh nghiệp (chiếm 24,8% tổng số doanh nghiệp được cấp mã). Biểu đồ biến động người nộp thuế cho thấy số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạt động năm 2015 chỉ còn 867 đơn vị trên tổng số 1.152 mã số thuế đã cấp.

Thứ ba, sai phạm kê khai thiếu doanh thu diễn ra trên diện rộng. Kết quả thanh kiểm tra năm 2015 phát hiện nhiều vụ việc điển hình: Công ty Cổ phần HTMP Việt Nam kê khai doanh thu 43.360.000.000 đồng nhưng số liệu kiểm tra thực tế là 46.360.000.000 đồng, chênh lệch tới 3.000.000.000 đồng do bỏ sót doanh thu công trình từ năm 2010 đến 2013. Công ty Xây dựng và Thương mại Mê Linh bỏ ngoài sổ sách doanh thu công trình Nhà máy giấy Hương Lan với số tiền 920.000.000 đồng. Công ty TNHH Xây dựng Thương mại và Tổng hợp Quang Minh chênh lệch doanh thu 3.400.000.000 đồng do không hạch toán khối lượng công trình hoàn thành tại Tòa nhà chung cư Mặt trời và KCN Tiên Sơn.

Thứ tư, hành vi gian lận chi phí được trừ phổ biến ở các khoản trích khấu hao và chi phí quản lý. Năm 2014-2015, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Mê Linh trích khấu hao trụ sở làm việc không có giấy tờ chuyển nhượng quyền sở hữu, làm tăng chi phí bất hợp pháp 921.000.000 đồng. Công ty TNHH Khóa Huy Hoàng hạch toán sai chi phí nghỉ mát của nhân viên không có chứng từ hợp lệ số tiền 814.000.000 đồng năm 2012 và bị truy thu điều chỉnh 198.000.000 đồng năm 2015. Công ty TNHH Vận tải Tuấn Phát đưa các khoản chi tiêu dùng cá nhân (tivi, tủ lạnh, máy giặt) vào chi phí bán hàng với số tiền 42.000.000 đồng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng gian lận thuế xuất phát từ nguyên nhân kinh tế suy giảm giai đoạn 2011-2015, khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 96% tìm mọi cách chiếm dụng tiền thuế làm vốn lưu động. Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế còn hạn chế; người tiêu dùng chưa có thói quen lấy hóa đơn đối với các giao dịch mua hàng trên 200.000 đồng, tạo kẽ hở cho 429 doanh nghiệp thương mại và 375 doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn bỏ ngoài sổ sách nguồn doanh thu lớn.

So sánh với các nghiên cứu tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa và Chi cục Thuế Quận Thanh Xuân, Mê Linh có tỷ lệ kiểm tra trực tiếp tại trụ sở người nộp thuế đạt mức thấp, chỉ hơn 10% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động/năm do lực lượng cán bộ mỏng (59 công chức tại văn phòng). Mô hình thanh tra tại Mê Linh vẫn theo lối mòn kiểm tra dàn trải thay vì phân tích rủi ro theo chuyên đề ngành nghề có doanh thu lớn trên 50 tỷ đồng như bài học thành công từ Quận Đống Đa (thu đạt 4.520 tỷ đồng năm 2015).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường quản lý người nộp thuế và kiểm soát chặt chẽ quy trình đăng ký kinh doanh. Ban Lãnh đạo Chi cục Thuế huyện Mê Linh cần phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cùng Ủy ban nhân dân 18 xã, thị trấn để rà soát 100% doanh nghiệp mới thành lập. Mục tiêu giảm tỷ lệ doanh nghiệp bỏ trốn, ngừng hoạt động không thông báo xuống dưới 10% trong giai đoạn 2016-2018; đồng thời rút ngắn thời gian xử lý thủ tục giải thể, đóng mã số thuế để ngăn chặn doanh nghiệp "ma" mua bán hóa đơn bất hợp pháp.

Thứ hai, nâng cao hiệu lực quản lý căn cứ tính thuế đối với doanh thu và chi phí hợp lý. Đội Kiểm tra thuế và Đội Tổng hợp nghiệp vụ dự toán cần triển khai kiểm tra bắt buộc việc lập hóa đơn đối với các giao dịch bán hàng trên 200.000 đồng theo Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Thông tư 78/2014/TT-BTC. Thiết lập cơ chế kiểm soát định mức tiêu hao nguyên vật liệu tại các doanh nghiệp sản xuất cơ khí, may mặc; kiên quyết loại bỏ 100% chi phí khấu hao tài sản cố định không thuộc quyền sở hữu doanh nghiệp, phấn đấu giảm 30% tình trạng khai sai chi phí trong giai đoạn 2016-2017.

Thứ ba, chuyển đổi phương thức thanh tra, kiểm tra thuế theo chuyên đề rủi ro cao. Đội Kiểm tra thuế cần chấm dứt việc kiểm tra dàn trải, nâng tỷ lệ kiểm tra trực tiếp từ 10% lên 20-25% số doanh nghiệp đang hoạt động hàng năm. Tập trung thanh tra chuyên đề vào 2 nhóm đối tượng trọng điểm: các doanh nghiệp có doanh thu lớn trên 50 tỷ đồng/năm và các doanh nghiệp ngành xây dựng thường xuyên nghiệm thu chậm trễ để trì hoãn nộp thuế, thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2016-2020.

Thứ tư, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và thực hiện định kỳ luân chuyển công tác. Chi cục Thuế huyện Mê Linh cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về phân tích báo cáo tài chính và nhận diện gian lận hóa đơn cho toàn bộ 68 cán bộ công chức. Thực hiện nghiêm túc quy định luân chuyển vị trí công tác đối với nhóm 20% cán bộ giữ vị trí quản lý lâu năm, đảm bảo 100% cán bộ đáp ứng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và tinh thông nghiệp vụ quản lý thuế trong giai đoạn 2016-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ, lãnh đạo cơ quan quản lý thuế tại các Chi cục Thuế quận, huyện: Nghiên cứu cung cấp tài liệu thực tiễn quý giá về mô hình tổ chức bộ máy 8 đội thuế, quy trình quản lý rủi ro và các giải pháp thanh tra theo chuyên đề ngành xây dựng, thương mại tại địa bàn ngoại thành đang trong quá trình đô thị hóa.

Nhóm giám đốc, kế toán trưởng và chuyên viên tài chính tại các doanh nghiệp tư nhân: Luận văn chỉ rõ các lỗi sai phạm kế toán phổ biến liên quan đến ghi nhận doanh thu công trình dở dang, trích khấu hao tài sản cố định góp vốn và lập bảng kê chi phí, giúp doanh nghiệp chủ động hoàn thiện sổ sách kế toán, tránh các mức phạt hành chính từ 5.000.000 đến 20.000.000 đồng khi quyết toán thuế.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế, Quản lý kinh tế, Thuế và Tài chính công: Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật chuẩn mực về hệ thống chỉ tiêu đánh giá quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp cùng chuỗi số liệu thực chứng giai đoạn 2011-2015 phục vụ công tác nghiên cứu đề tài khoa học.

Nhóm chuyên gia hoạch định chính sách tại Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính: Công trình cung cấp góc nhìn thực tiễn về những bất cập trong việc áp dụng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ chế tự khai tự nộp và quản lý hóa đơn bán lẻ tại cấp cơ sở, làm tiền đề để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ trọng số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của khu vực tư nhân tại huyện Mê Linh giai đoạn 2013-2015 biến động như thế nào?

Giai đoạn 2013-2015, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp tăng tuyệt đối từ 19.729 triệu đồng lên 22.579 triệu đồng, nhưng tỷ trọng trong tổng thu khu vực ngoài quốc doanh lại giảm từ 8,6% xuống 8,4%. Nguyên nhân do phần lớn trong số 1.152 doanh nghiệp là đơn vị quy mô nhỏ, nhiều doanh nghiệp mới thành lập còn trong thời gian hưởng ưu đãi miễn giảm thuế.

Những hành vi giấu doanh thu phổ biến nhất của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn là gì?

Các doanh nghiệp thường không xuất hóa đơn bán lẻ cho khách hàng cá nhân đối với các đơn hàng trên 200.000 đồng và không ghi nhận doanh thu công trình đã hoàn thành, thu tiền. Ví dụ: Công ty CP HTMP Việt Nam kê khai thiếu 3.000.000.000 đồng doanh thu, Công ty Xây dựng và Thương mại Mê Linh bỏ sót 920.000.000 đồng doanh thu công trình.

Cơ quan thuế phát hiện những sai phạm chủ yếu nào liên quan đến chi phí được trừ?

Sai phạm tập trung vào việc trích khấu hao tài sản chưa chuyển quyền sở hữu (như Công ty CP XNK Mê Linh kê khai sai 921.000.000 đồng) và đưa các khoản chi tiêu cá nhân, nghỉ mát không hợp lệ vào sổ sách (Công ty TNHH Khóa Huy Hoàng hạch toán sai 814.000.000 đồng, Công ty TNHH Vận tải Tuấn Phát khai sai 42.000.000 đồng).

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục Thuế huyện Mê Linh được thiết lập như thế nào?

Chi cục Thuế huyện Mê Linh gồm 68 cán bộ nhân viên, được chia thành 8 đội thuế. Trong đó có 6 đội chức năng tại văn phòng chi cục với 59 cán bộ (như Đội Kiểm tra thuế, Đội Quản lý nợ) và 2 đội thuế liên xã gồm 10 cán bộ trực tiếp phụ trách 18 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.

Bài học kinh nghiệm nào từ Chi cục Thuế Quận Đống Đa được đề xuất áp dụng tại Mê Linh?

Huyện Mê Linh cần học tập Đống Đa trong việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002 và chuyển từ kiểm tra dàn trải sang thanh tra theo chuyên đề trọng điểm. Đặc biệt là chuyên đề hóa đơn và kiểm tra các doanh nghiệp có doanh thu trên 50 tỷ đồng/năm để nâng cao hiệu suất thu ngân sách.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường.
  • Phản ánh trung thực bức tranh quản lý thuế tại huyện Mê Linh giai đoạn 2011-2015 với quy mô 1.152 doanh nghiệp, thu thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2015 đạt 22.579 triệu đồng nhưng đối mặt với tỷ lệ 24,8% doanh nghiệp ngừng hoạt động.
  • Chỉ rõ các phương thức gian lận doanh thu và chi phí điển hình tại các doanh nghiệp xây dựng, thương mại thông qua kiểm tra thực tế tại các đơn vị như Công ty CP HTMP Việt Nam, Công ty CP XNK Mê Linh.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao: Tăng cường quản lý người nộp thuế, kiểm soát hóa đơn và chi phí hợp lý, thanh tra theo chuyên đề doanh nghiệp rủi ro trên 50 tỷ đồng và đào tạo, luân chuyển trên 20% cán bộ thuế.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2016-2020 nhằm hiện đại hóa quy trình thu nộp, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế và đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch tại địa phương.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ ngành tài chính có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Bích Liên để khai thác sâu hơn hệ thống số liệu và các giải pháp quản lý thuế chuyên sâu.