CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Ở CÁC TRƯỜNG TIỀU HỌC ĐÁP ƯNG YÊU CÀU ĐẠT CHUẤN QUÓC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động thư viện ở Việt Nam còn nhiều hạn chế: Thảo luận về dự án Luật Thư viện các đại biểu đều cho rằng hiện nay hệ thống thư viện, nhất là thư viện công cộng hoạt động kém hiệu quả, không đáp ứng được nhu cầu đọc và khai thác thông tin cùa người dân. Hệ thống TVTH chưa được quan tâm đúng mức; văn hóa đọc đã và đang bị lấn át bởi những hình thức tiếp cận thông tin mới.Những bất cập này đặt ra yêu cầu phải sớm có chính sách khắc phục. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện cho biết, từ chồ chỉ là nơi giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc, thu thập, tố chức khai thác và sử dụng vốn tài liệu dùng chung, đến nay thư viện đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, không gian học tập sáng tạo của cộng đồng, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Những năm gần đây, các thư viện đã từng bước hiện đại hóa, đấy mạnh ứng dụng CNTT, từng bước xây dựng thư viện điện từ, thư viện số nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng được dễ dàng hon. Tuy nhiên hoạt động thư viện ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và chưa thỏa mãn được nhu cầu đọc, sử dụng và khai thác thông tin của các tầng lóp nhân dân. Nhiều thư viện ở Việt Nam luôn phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu do ngân sách đầu tư cho thư viện còn hạn chế. Khó khăn lớn nhất hiện nay của các thư viện là thiếu nguồn lực để phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; người làm công tác thư viện thụ động; thư viện chưa thực sự được tạo điều kiện đề phát huy hết sự chủ động và sáng tạo trong công tác.
Ở nước ta cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động thư viện. 7 - Tác giả Đoàn Thị Thu (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) nghiên cứu đề tài: “Vai trò của thư viện trường trong việc xây dựng và phát triển tủ sách lớp học ở các thư viện trường phố thông” cho rằng: “Xây dựng và phát triền tủ sách lớp học là động lực giúp thư viện trường phổ thông nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, từng bước khẳng định được vai trò của thư viện trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông .Hiệu quà hoạt động của tủ sách lớp học phụ thuộc rất lớn vào mức độ tham gia của thư viện nhà trường (TVNT).Để tủ sách lớp học thực sự hữu ích như mong muốn, cần nhất là trình độ và tâm huyết của người NVTV trường phổ thông” [30] - Tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) đã đề cập đến những khái niệm về quản lý thư viện trong bài viết “Một số vấn đề về quản lý thư viện hiện đại” đăng trên tạp chí thư viện Việt Nam sổ 5 (49) tháng 9 năm 2014 đã nêu lên các định nghTa về quản lý thư viện và quản lý thư viện hiện đại.Sự giống nhau và khác nhau giữa quản lý thư viện truyền thống và quàn lý thư viện hiện đại, khái quát một số nội dung quản lý thư viện hiện đại như: quản lý nguồn nhân lực thư viện, quản lý hoạt động chuyên môn, quản lý tài chính, quản lý CSVC.Theo tác giả “Thư viện hiện đại là một loại thư viện được áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật • ■ • 1 • • mà cụ thể là CNTT.Dưới tác động của ứng dụng CNTT, thư viện hiện đại có rất nhiều thay đổi: từ cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực cho đến csvc trang thiết bị.thư viện hiện đại ngày nay có những cấp độ khác nhau với các tên gọi khác nhau như: thư viện đa phương tiện, thư viện điện tử, thư viện số,.Quản lý thư viện hiện đại rất cần người quản lý có các kiến thức về úng dụng CNTT vào hoạt động thư viện và có kỹ năng thực hành phần mềm quàn lý.Nói cách khác, quản lý thư viện hiện đại là hoạt động được chủ thể quản lý • VZJ tự giác thực và đổi tượng quản lý 1 • hiện • được • nhằm đảm bảo đạt • tiêu của • mục thư viện với sự hỗ trợ của các phương tiện kỳ thuật hiện đại” [28] Tác giả Đỗ Văn Hùng, Thái Thị Trâm (Khoa Thông tin - thư viện, 8 Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quôc gia Hà Nội) nghiên cứu về thư viện ở khía cạnh khá mới; “Thư viện đại học trước xu the sử dụng thiết bị di động trong học tập của sinh viên”.Nghiên cứu của hai tác giả nhận định: “Hiện nay các thiết bị di động ngày càng trở nên quen thuộc và là một vật dụng không thể thiếu của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên.Các thiết bị này đã và đang ảnh hưởng đến sinh viên trong hoạt động học tập.Bài viết đánh giá tình hình sử dụng thiết bị di động của sinh viên và phân tích các yếu tố tác động đến việc sử dụng các thiết bị này cho hoạt động học tập.Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị cho thư viện đại học trong việc nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ đào tạo trong kỷ nguyên số và di động” [21 ] Các quốc gia trên thế giới đều nhận thức được vai trò của thư viện như một thiết chế xã hội đáp ứng nhu cầu thông tin, nhu cầu nghiên cứu và học tập, nhu cầu hưởng thụ văn hóa, đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển kinh tế xã hội và nâng cao dân trí, cho nên họ đều xây dựng các khung pháp lý để bảo vệ và phát triển sự nghiệp thư viện.Mặt khác, các quốc gia đều có chính sách đầu tư xây dựng các hệ thống và màng lưới thư viện ngày càng hiện đại theo hướng biến thư viện trở thành các cơ quan thông tin, trung tâm học liệu, trung tâm hồ trợ nghiên cứu khoa học và học tập suốt đời, trung tâm lưu trừ và bảo quản di sản thư tịch; các thư viện công cộng sẽ tiến tới trở thành các trung tâm văn hóa cộng đồng, là nơi truy cập Internet, là một mắt xích của chính phủ điện tử Nghiên cứu về hoạt động thư viện thì có khá nhiều, nhưng thường chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động của các thư viện lớn như thư viện Quốc gia, thư viện của các trường Đại học.Tuy nhiên, việc nghiên cứu về hoạt động của thư viện ở các trường tiều học cũng như công tác quản lý hoạt động thư viện ở các trường tiếu học còn hạn chế.Cho đến nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động thư viện ỏ' các trường tiểu học thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu đạt chuẩn quốc gia” 9 1. Các khái niệm cơ bản ciía đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1.
Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.Đây là lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện.Khoa học quản lý cũng như nhiều khoa học xã hội - nhân văn khác gắn với tiến trình phát triển của xã hội loài người, nên nó luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, tính thời đại.Quản lý là một khoa học, nhưng nó còn mang tính nghệ thuật Theo Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phổi các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22] Tác giả Vũ Dũng quan niệm: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thề của nó” [17] Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” [2] Tóm lại, các định nghĩa nêu trên đều diễn đạt được nét đặc trưng cơ bản của quản lý đó là những tác động có tính hướng đích; được tiến hành trong một tố chức hay một nhóm xã hội và hoạt động quản lý là nhũng tác động phối họp tích cực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức • ^7 • JL • • • • Chúng tôi sừ dụng khái niệm sau đây làm khái niệm công cụ: Quản lý là sự tác động có mục đích có kể hoạch của chủ thê quản lý đê chi huy, điều khiên, hướng dần các quả trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người 10 nhằm đạt được mục tiêu và ỷ chí của nhà quản lỷ đề ra, phù hợp với quy luật khách quan 1. Quản lỷ giáo dục( QLGD) QLGD là một bộ phận trong quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.