Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG THƯ VIỆN HƯỚNG TỚI HÌNH THÀNH THÓI QUEN ĐỌC CHO TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 8 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về hoạt động thư viện; quản lý xây dựng thư viện Nghiên cứu về hoạt động thư viện Chuẩn hóa các hoạt động TV là một trong những vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu như: Karen Coyle (2005) trong bài “Thư viện và Tiêu chuẩn” (Libraries and Standards) [31, p 373-376]; Jurgen Krause (2003) trong bài tham luận “Chuẩn hóa, sự không đồng nhất và chất lượng của việc phân tích nội dung: Mâu thuẫn chính yếu của các thư viện số và giải pháp” trình bày tại Đại hội Thông tin và Thư viện thế giới IFLA 69 ở Berlin (Đức) [39];.
Tại Việt Nam, hoạt động thông tin – thư viện (hay còn gọi là hoạt động TV) được coi là một trong những hoạt động rất cần thiết trong các cơ sở đào tạo, trong đó có các trường mầm non. Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động thông tin thư viện đã được đề cập dưới những góc độ khác nhau. Trước hết có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Về công tác thư viện: các văn bản pháp quy hiện hành”, do hai tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Hữu Giới (sưu tầm và biên soạn) (2008) [18]; “Một số vấn đề về tổ chức quản lý thư viện đại học” của tác giả Nguyễn Huy Chương (2017) [8];. Ngoài ra cũng có nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu và các bài báo khoa học về tổ chức và hoạt động thông tin thư viện ở các cơ sở giáo dục, các tỉnh, thành phố, như: Phạm Lan Anh (2010) với đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội trước yêu cầu đổi mới sự nghiệp đào tạo của Nhà trường” [2]; Ngô Hồng Điệp (lược dịch) (2018) với bài viết “Vai trò của các thư viện trong xã hội tri thức mở” [9, tr.56-62, 63], Nguyễn Minh Hiệp (2014) với bài viết “Thư viện số và vấn đề xây dựng thư viện số ở Việt Nam”.
Nghiên cứu về quản lý thư viện Robert D. là các tác giả tiêu 9 biểu đã đề cập khá toàn diện về quản lý thư viện, như: cơ sở lý luận về quản lý xây dựng thư viện, về các chức năng, các nội dung quản lý thư viện. Ở phương diện hẹp hơn, Peter Broply & Kate Coulling tiếp cận quản lý thư viện và thông tin trung tâm dưới phương diện quản lý chất lượng dịch vụ ở thư viện. Tại Việt Nam, một số tác giả tiêu biểu đã công bố những công trình về quản lý thư viện và trung tâm thông tin, tiêu biểu như: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hương Ly (2017) với “Nghiên cứu về hoạt động TV kỹ thuật tại Việt Nam: Trường đại học Bách khoa Hà Nội”, Nguyễn Tiễn Hiển, Nguyễn Thị Lan Thanh (2010) với bài viết “Quản lý thư viện và trung tâm thông tin”; Nguyễn Thị Lan Thanh (2014) với bài viết “Một số vấn đề về quản lý thư viện hiện đại” trên Tạp chí Thư viện Việt Nam; hay Bùi Loan Thùy, Đào Hoàng Thúy (1998) với bài viết “Tổ chức và quản lý công tác thông tin - thư viện”.
Nội dung các nghiên cứu này đề cập đến quản lý xây dựng thư viện từ các phương diện: Lý luận chung về quản lý xây dựng thư viện, các nội dung quản lý xây dựng thư viện. Nghiên cứu về quản lý xây dựng thư viện Samuel Olu Adeyoyin [37] nghiên cứu về áp dụng lý thuyết về quản lý sự thay đổi vào quản lý thư viện và trung tâm thông tin trong thế kỷ 21. Trong đó, yêu cầu quản lý xây dựng thư viện được thể hiện trên nhiều phương diện, bao gồm: (1) Về cơ cấu tổ chức: việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) đã tác động mạnh mẽ đến cơ cấu tổ chức của cơ quan thư viện thông tin, làm thay đổi bản chất hoạt động của một số bộ phận, phòng ban [24]; (2) Về phương thức quản lý trong một thư viện hiện đại phương pháp quản lý chuyên quyền, độc đoán và cơ cấu cấp bậc cứng nhắc phải nhường chỗ cho cơ cấu tổ chức cho phép các nhân viên được tham gia quản lý với một cơ cấu có ít cấp quản lý hơn [24]; (3) Về người quản lý, Theo Krishan Kumar [40]; Robert D. đều đã đề cập đến yêu cầu đối với người quản lý xây dựng thư viện.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả đã đề cấp đến các chức năng của 10 quản lý thư viện hiện đại và thống nhất chỉ ra rằng: quản lý xây dựng thư viện trong thế kỷ 21 vẫn thực hiện các chức năng cơ bản như: Lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm tra. Tại Việt Nam, đã có một số nhà khoa học và quản lý nghiên cứu tiếp cận quản lý xây dựng thư viện ở những mức độ, phương diện khác nhau được công bố tại Hội thảo khoa học với chủ đề: Hiện đại hóa thư viện [15]; Kinh nghiệm xây dựng và quản lý thư viện điện tử [16] vào tháng 6/2003 và tháng 9/2003 của Liên hiệp Thư viện các trường đại học khu vực phía Nam hay Hội thảo Thực trạng và giải pháp đổi mới mô hình tổ chức quản lý và phương thức hoạt động TV Việt Nam có một số tham luận đề cập đến xu hướng quản lý các thư viện Việt Nam. do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức vào tháng 5/2015. Nghiên cứu về quản lý xây dựng thư viện, hướng tới hình thành thói quen đọc cho trẻ tại trường mầm non Việt Nam thực hiện quản lí theo chuẩn trong lĩnh vực thư viện bắt đầu từ năm 2003.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hệ thống các văn bản pháp quy về thư viện các trường phổ thông đạt chuẩn tại Quyết định số 01/2003 QĐ/BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Tiêu chuẩn Thư viện phổ thông ban hành ngày 02/01/2003 và Quyết định số 01/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/01/2004 về sửa đổi bổ sung Quyết định số 01/2003 QĐ/BGD&ĐT. Trong đó, quy định rõ 05 (năm) tiêu chí để thư viện các trường phổ thông đạt chuẩn, bao gồm: - Tổ chức nhà trường, - Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; - Chất lượng giáo dục; - Cơ sở vật chất, thiết bị; - Công tác xã hội hóa giáo dục. 11 Theo đó, trường chuẩn quốc gia cần đảm bảo các điều kiện cho hoạt động dạy và học, trong đó có hoạt động quản lý xây dựng thư viện nhằm đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến là: “Thư viện trường phổ thông với việc nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Thị Minh Nguyệt (2006) [22], “Thư viện trường học bang Wisconsin với việc học tập của học sinh” của tác giả Trần Mỹ Dung (2009) [9, p.18-19] … Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 1/11/2022 về đẩy mạnh đổi mới hoạt động của thư viện trong xây dựng, phát triển kỹ năng đọc, tiếp cận và xử lý thông tin cho thiếu nhi.
Các tác giả bài viết và quan nghiên cứ các tài liệu, chỉ thị nói lên vai trò của thư viện đối với các hoạt động giáo dục trong nhà trường, sự liên hệ giữa thư viện trường học và thư viện công cộng, cũng như vai trò của nó trong việc hình thành thói quen đọc sách cho học sinh. Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã xây dựng được những lý luận cơ bản về quản lý xây dựng thư viện. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu tiếp cận hoạt động TV ở các vấn đề, khía cạnh riêng, nghiên cứu nhiều ở hệ thống thư viện công cộng, thư viện các trường đại học mà chưa quan tâm nhiều đến hệ thống lí luận về quản lí hoạt động TV ở trường mầm non. Do đó, nghiên cứu về “Quản lý xây dựng thư viện hướng tới hình thành thói quen đọc cho trẻ tại trường mầm non” là một đề tài hoàn toàn mới chưa có ai nghiên cứu.
Một số khái niệm cơ bản 1. Thư viện trường mầm non và hoạt động thư viện ở trường mầm non 1. Khái niệm thư viện trường mầm non Khái niệm “ thư viện” Thuật ngữ “thư viện” xuất phát từ chữ Hy Lạp “bibliotheca”. “Biblio” nghĩa là sách, “theca” nghĩa là nơi bảo quản.
Hiểu theo nghĩa đen, “thư viện 12 là nơi bảo quản sách, là nơi tàng trữ sách báo” [31. Trong Từ điển tiếng Việt, thư viện được định nghĩa là “nơi tàng trữ, giữ gìn sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng” [25, p.953] hoặc “thư viện là nơi công cộng chứa sách xếp theo một thứ tự nhất định để tiện cho người ta đến đọc và tra cứu” [26, p. Hiểu theo nghĩa bóng, thư viện được coi là “kho tàng chứa tất cả của cải tinh thần của loài người”, “là trường học tư tương của con người, dạy cho con người có năng lực lao động, là nơi tẩy sạch sự dốt nát”, “là trí nhớ không hủy diệt nổi của loài người” [30, p.284] … Trong quá trình hình thành và phát triển, thư viện và vấn đề tổ chức quản lý hoạt động TV đã có bước chuyển song hành với sự phát triển của xã hội. Đó là bước chuyển từ quản lý thủ công – quản lý tư liệu: sách được xếp theo kích cỡ trong những kho kín trong thư viện, độc giả chỉ tiếp cận với thủ thư ở quầy để yêu cầu mượn sách.
Trong thời đại mới, thư viện vẫn luôn được coi là nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của loài người, là một bộ phận của nền văn hóa và mang thêm sắc thái mới – là trung tâm thông tin – tư liệu của các nước, là nơi thu nhập và thỏa mãn nhu cầu thông tin cho quảng đại quần chúng [31, p. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) (1970) định nghĩa: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe – nhìn, và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí”.