Luận văn: Quản lý thông điệp quân sự thế giới trên Báo QĐND - Đỗ Sỹ Quát

Nghiên cứu công tác quản lý thông điệp về quân sự thế giới trên Báo Quân đội nhân dân hằng ngày, nâng cao định hướng thông tin và hiệu quả truyền thông.

Chuyên ngành

Quản lý Báo chí - Truyền thông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

125
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý thông điệp quân sự thế giới của báo Quân đội

Quản lý thông điệp về quân sự thế giới trên báo Quân đội nhân dân hằng ngày giữ vai trò then chốt trong định hướng dư luận xã hội. Hoạt động này chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Báo Quân đội nhân dân hằng ngày là cơ quan ngôn luận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Các thông điệp quân sự quốc tế cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình an ninh toàn cầu. Nội dung phản ánh bao gồm chính sách quốc phòng, ngân sách quân sự và tương quan lực lượng giữa các nước lớn. Việc quản lý thông điệp đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt tôn chỉ mục đích của tờ báo. Mọi thông tin phải bảo đảm tính thời sự, tính chiến đấu và tính khoa học sâu sắc. Ban Biên tập kiểm soát chặt chẽ từng khâu từ tiếp nhận nguồn tin đến thẩm định bài viết. Quá trình này ngăn ngừa các sai sót chính trị và rò rỉ bí mật quân sự. Đồng thời, công tác quản lý giúp truyền tải chính xác quan điểm hòa bình của Đảng và Nhà nước. Độc giả tiếp cận nguồn tri thức quân sự chuẩn xác, nâng cao nhận thức bảo vệ Tổ quốc.

1.1. Khái niệm và đặc điểm thông điệp quân sự thế giới

Thông điệp quân sự thế giới là hệ thống tin tức, bài viết phản ánh hiện thực quốc phòng quốc tế. Nội dung này mang tính chuyên biệt cao, gắn liền với khoa học vũ khí và nghệ thuật tác chiến. Đặc điểm nổi bật của thông điệp là tính thời sự nhạy cảm và tầm ảnh hưởng chiến lược. Các bài viết đề cập đến sự dịch chuyển lực lượng, ngân sách quốc phòng và xung đột khu vực. Mỗi thông điệp đều phản ánh lập trường đối ngoại của cơ quan ngôn luận quân đội. Yêu cầu tính chính xác tuyệt đối đặt lên hàng đầu. Tòa soạn phải chọn lọc thông tin từ các nguồn uy tín toàn cầu. Thông điệp giúp cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nắm vững cục diện thế giới khách quan.

1.2. Vai trò của Ban Biên tập trong quản lý thông tin

Ban Biên tập là hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt động xuất bản tại tòa soạn. Đứng đầu là Tổng biên tập, người chịu trách nhiệm cao nhất trước Đảng và Nhà nước. Ban Biên tập trực tiếp đề ra định hướng thông tin quân sự thế giới theo từng giai đoạn. Các quy định về bảo mật quốc phòng được triển khai chặt chẽ đến từng biên tập viên. Lãnh đạo tòa soạn chỉ đạo phê duyệt kế hoạch tuyên truyền hàng tuần và hàng tháng. Khâu thẩm định bản thảo diễn ra nghiêm cẩn nhằm loại trừ thông tin sai lệch, thiếu kiểm chứng. Quyết định xuất bản luôn bám sát đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hòa bình của Việt Nam. Nhờ đó, thông điệp luôn giữ vững bản lĩnh chính trị và tính chuyên nghiệp báo chí.

II. Thực trạng quản lý thông điệp quân sự thế giới trên báo Quân đội

Thực tế khảo sát cho thấy nội dung thông điệp về quân sự thế giới trên báo Quân đội nhân dân hằng ngày rất phong phú và đa dạng. Các nhóm chủ đề nổi bật bao gồm thông tin chính sách, ngân sách, trang bị quốc phòng và bố trí lực lượng. Báo cũng chú trọng phản ánh sự phát triển khoa học quân sự, vũ khí công nghệ cao và phương thức tác chiến mới. Tỷ lệ bài viết về hợp tác quốc phòng song phương, đa phương chiếm số lượng đáng kể. Phần lớn tác phẩm do đội ngũ phóng viên, biên tập viên trực tiếp dịch thuật, biên soạn và sáng tạo. Số lượng tin vắn, tin ngắn và bài phản ánh chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu thể loại. Tuy nhiên, số lượng bài bình luận chuyên sâu mang tính tổng hợp, dự báo chiến lược vẫn còn khiêm tốn. Việc khai thác nguồn tin quốc tế đôi khi còn phụ thuộc vào các hãng thông tấn lớn của nước ngoài. Công tác thẩm định đòi hỏi nhiều thời gian do tính chất phức tạp của các cuộc xung đột vũ trang. Tòa soạn đã không ngừng đổi mới quy trình xuất bản để khắc phục những hạn chế này. Nhờ vậy, chất lượng thông điệp ngày càng được nâng cao rõ rệt.

2.1. Phân bổ chủ đề và nguồn khai thác thông điệp

Chủ đề về chính sách và trang thiết bị quốc phòng chiếm vị trí trung tâm trong các ấn phẩm hằng ngày. Tòa soạn chú trọng phản ánh các cuộc diễn tập quân sự, hợp tác song phương và nỗ lực chống khủng bố toàn cầu. Nguồn thông tin chủ yếu đến từ các hãng thông tấn quốc tế danh tiếng và cơ quan thông tấn nhà nước. Đội ngũ phóng viên thực hiện kiểm chứng chéo từ nhiều kênh độc lập nhằm bảo đảm tính khách quan. Việc phân bổ cân đối giữa các cường quốc quân sự giúp giữ vững tính trung lập của thông tin. Tuy vậy, tỷ lệ tin tức từ các điểm nóng còn phụ thuộc vào truyền thông phương Tây. Điều này đòi hỏi quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu hết sức thận trọng.

2.2. Hạn chế về thể loại bài viết và tính chuyên sâu

Thể loại tin ngắn và bài phản ánh chiếm tỷ lệ vượt trội so với các thể loại chính luận. Các bài viết bình luận quân sự chuyên sâu chưa xuất hiện thường xuyên trên các chuyên trang. Nguyên nhân bắt nguồn từ độ phức tạp của các vấn đề xung đột vũ trang quốc tế. Việc phân tích chiến lược đòi hỏi dữ liệu tình báo chính xác và chuyên gia có trình độ cao. Nhiều bài viết dừng lại ở mức mô tả sự kiện mà chưa đi sâu vào bản chất chiến dịch. Khả năng dự báo xu hướng chiến tranh tương lai còn đối mặt với nhiều rào cản thông tin. Tòa soạn cần bổ sung các bài phân tích đa chiều để tăng sức nặng học thuật cho từng trang báo.

III. Giải pháp quản lý thông điệp quân sự thế giới của báo Quân đội

Nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp quân sự thế giới đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và khoa học. Tòa soạn cần hoàn thiện quy trình tổ chức sản xuất tin bài theo hướng chuyên nghiệp hóa. Việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền dài hạn giúp chủ động ứng phó với các biến động quốc tế. Đội ngũ biên tập viên phải được bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị và khoa học quân sự thường xuyên. Năng lực ngoại ngữ và kỹ năng thẩm định nguồn tin mở là yếu tố then chốt cần nâng cấp. Tòa soạn cần đầu tư hạ tầng công nghệ hiện đại nhằm theo dõi và phân tích dữ liệu lớn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan báo chí và các viện nghiên cứu chiến lược tạo nguồn bài viết chất lượng cao. Các quy chuẩn kiểm duyệt nội dung cần được số hóa để rút ngắn thời gian xử lý tin tức. Việc bảo đảm bí mật quốc phòng luôn phải gắn liền với tính thời sự nhanh nhạy của báo in. Những giải pháp này giúp báo Quân đội nhân dân hằng ngày duy trì vị thế dẫn đầu trong mảng thông tin quân sự.

3.1. Đổi mới quy trình sản xuất và kiểm duyệt tin bài

Quy trình sản xuất tin bài quân sự quốc tế cần được tối ưu hóa theo mô hình tòa soạn hiện đại. Các bước từ chọn lọc đề tài, biên dịch đến biên tập cần có sự phân công chuyên môn hóa rõ rệt. Khâu thẩm định thông tin phải đối chiếu với các nguồn chính thống và cơ quan ngoại giao. Ban Biên tập cần thiết lập cơ chế phản ứng nhanh trước các sự kiện xung đột quốc tế bất ngờ. Hệ thống biên tập điện tử nội bộ giúp quản lý chặt chẽ từng phiên bản chỉnh sửa bài viết. Mọi nội dung nhạy cảm phải được rà soát kỹ lưỡng qua nhiều cấp kiểm duyệt. Sự đổi mới này bảo đảm tin tức vừa nhanh nhạy vừa chuẩn xác tuyệt đối.

3.2. Bồi dưỡng nhân lực và mạng lưới cộng tác viên

Yếu tố con người giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng thông điệp báo chí. Tòa soạn cần tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ báo chí quân sự quốc tế. Đội ngũ phóng viên phải nâng cao trình độ ngoại ngữ và kỹ năng phân tích chiến lược. Việc mở rộng mạng lưới cộng tác viên là các chuyên gia, tướng lĩnh quân đội tạo thêm góc nhìn uyên bác. Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế cung cấp những bài bình luận có giá trị học thuật cao. Cơ chế đãi ngộ hợp lý giúp thu hút nguồn chất xám phục vụ các chuyên mục trọng điểm. Sự kết hợp này mang lại cho độc giả những ấn phẩm báo chí có chiều sâu.

IV. Kết luận về quản lý thông điệp quân sự thế giới của báo Quân đội

Quản lý thông điệp về quân sự thế giới trên báo Quân đội nhân dân hằng ngày là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng. Hoạt động này góp phần định hướng nhận thức quốc phòng cho toàn dân và toàn quân. Các ấn phẩm phản ánh bức tranh toàn cảnh về cục diện an ninh thế giới một cách chân thực và khách quan. Việc duy trì tính kỷ luật, sự chuẩn xác trong từng bài viết khẳng định bản lĩnh của tờ báo quân đội. Những kết quả đạt được tạo nền tảng vững chắc để cơ quan báo chí tiếp tục hiện đại hóa nội dung. Ứng dụng khoa học quản lý báo chí giúp tối ưu hóa công tác tuyên truyền đối ngoại quốc phòng. Thông điệp quân sự chính xác củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự nghiệp xây dựng quân đội. Tòa soạn tiếp tục phát huy vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trong thời kỳ mới. Việc kết hợp chặt chẽ giữa định hướng tư tưởng và nâng cao tính hấp dẫn bảo đảm sự phát triển bền vững.

4.1. Ý nghĩa của quản lý thông tin đối ngoại quốc phòng

Quản lý thông điệp quân sự thế giới góp phần thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng. Các ấn phẩm khẳng định chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Thông tin phản ánh đúng mực giúp xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác quốc tế. Tờ báo trở thành kênh truyền thông uy tín, lan tỏa thông điệp hữu nghị và hợp tác bình đẳng. Độc giả trong và ngoài quân đội hiểu rõ chính sách quốc phòng bốn không của Việt Nam. Công tác này ngăn ngừa âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Ý nghĩa chiến lược của thông tin đối ngoại được phát huy mạnh mẽ.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong công tác thông tin quân sự

Kết quả nghiên cứu quản lý thông điệp đem lại giá trị thực tiễn to lớn cho các tòa soạn báo. Cơ quan báo chí có thể áp dụng các tiêu chí chuẩn hóa vào quy trình sản xuất tin tức hàng ngày. Mô hình phân tích định lượng giúp đánh giá chính xác mức độ phủ sóng của từng đề tài quân sự. Các cơ quan quản lý báo chí quân đội có thêm cơ sở khoa học để ban hành quy chế biên tập. Hoạt động đào tạo phóng viên được định hướng sát thực tế tác nghiệp tại cơ sở. Sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ Tổ quốc. Mô hình này mở ra hướng phát triển mới cho báo chí quốc phòng thời đại số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý thông điệp quân sự thế giới trên Báo Quân đội nhân dân hằng ngày. Chương 2: Thực trạng quản lý thông điệp quân sự thế giới trên Báo Quân đội nhân dân hằng ngày. Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp quân sự thế giới trên Báo Quân đội nhân dân hằng ngày. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP QUÂN SỰ THẾ GIỚI TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN HẰNG NGÀY 1.

Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định, song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau. Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Theo các nhà khoa học thì quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội.

Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý. Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Theo quan điểm của Lưu Văn An trong “Chính trị với quản lý xã hội”, thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đặt ra trong biến động của môi trường [1, tr.

Ở đây, quản lý là những tác động có mục tiêu, có kế hoạch, đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Hiệu quả của hoạt động quản lý phục thuộc vào cơ cấu của tổ chức. Quản lý còn được hiểu là quản lý con người trong một nhóm, một tổ chức nhất định. Hoạt động quản lý là quá trình điều phối những khả năng để đáp ứng 14 một mục đích, là hoạt động khắc phục mâu thuẫn bên trong giữa đối tượng và chủ thể, giữa tự nhiên và con người, giữa nhu cầu và khả năng của sản xuất.

Theo tác giả Vũ Hào Quang, trong giáo trình “Xã hội học quản lý”, thì khái niệm quản lý được hiểu là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện tác động của môi trường [42, tr. Quản lý là quan hệ giữa người với người trong một xã hội nhất định. Nói cách khác, quản lý là một dạng quan hệ xã hội có sự tham gia của các bên theo một cơ chế riêng biệt. Một bên làm phát sinh các tác động tổ chức và điều chỉnh, còn bên kia là sự tiếp nhận các tác động ấy, chuyển chúng thành các hành vi hoạt động cụ thể, tạo thành một quá trình vận động ăn khớp, nhịp nhàng nhằm một mục đích chung.

Trong quan hệ này, chủ thể quản lý là bên làm phát sinh các tác động tổ chức và điều chỉnh, còn bên kia là khách thể quản lý. Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”, là “một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” [30, tr. Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Đó chính là mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc, trong đó chủ thể quản lý là nhân tố quyết định hoạt động quản lý, là người thực hiện các tác động đến đối tượng quản lý.

Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân cũng có thể là một nhóm người; khách thể quản lý có thể là tự nhiên vô sinh, tự nhiên hữu 15 sinh và con người. Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; quản lý bao giờ cũng liên quan đến trao đổi thông tin. Tóm lại, xét ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức, công cụ quản lý thích hợp để chỉ huy, điều hành, định hướng các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân nhằm hướng đến hành động thống nhất, phù hợp với quy luật khách quan, với nội dung và phương thức quản lý.

Thông điệp Đây là khái niệm đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam phân tích, chỉ ra những yếu tố mang tính chất cốt lõi. Tại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu về truyền thông như Tạ Ngọc Tấn, Mai Quỳnh Nam, Đỗ Thị Thu Hằng, Nguyễn Văn Dững, Đinh Thị Thuý Hằng … có nhiều nghiên cứu về thông điệp. Trong đó, thông điệp thường được xác định vị trí quan trọng trong chu trình truyền thông gồm: Thông điệp, nguồn, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi, nhiễu, hiệu lực truyền thông, hiệu quả truyền thông. Theo Tạ Ngọc Tấn, “Thông điệp là những nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận” [47, tr.

Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng (2012), trong “Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, các tác giả đã đưa ra định nghĩa về thông điệp như sau: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống này được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt… của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp” [16, 16 tr.

“Thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể. Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác, hệ thống ký hiệu ấy phải được giải mã bởi đầu nhận. Hệ thống ký hiệu ấy có thể là lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, mầu sắc, cử chỉ, thái độ…” [16, tr. Cũng theo Nguyễn Văn Dững, trong “Cơ sở lý luận báo chí” tác giả cho rằng “Thông điệp của báo chí được thể hiện ở các cấp độ khác nhau: Thông điệp của số báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình; thông điệp của tác phẩm báo chí.

Tính chất đặc thù của thông điệp báo chí là nó được cấu thành từ các sự kiện và các vấn đề thời sự đã và đang diễn ra. Thông điệp báo chí lại gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của kênh chuyển tải - báo in, phát thanh, truyền hình, hay báo mạng điện tử. Có thông điệp đích và thông điệp tài liệu; thông điệp bộ phận và thông điệp chung; thông điệp ẩn và thông điệp trực tiếp; thông điệp sự kiện và thông điệp lý lẽ” [14, tr. Một cách tiếp cận khác, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong một hoàn cảnh cụ thể nhằm tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông.

Có thể phân chia thông điệp truyền thông theo các mục đích mà phương tiện truyền thông hướng tới như các mục đích chính trị xã hội, mục đích văn hóa và mục đích thương mại. Thông điệp là linh hồn của một chiến dịch truyền thông hay một công cụ truyền thông. Không thể có truyền thông không có thông điệp. Như vậy, hầu hết các tác giả đều thống nhất: Thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể được trao đổi từ nguồn phát và đầu nhận, nói cách khác được cả hai bên phát và bên nhận cùng cấp nhận, đều hiểu được và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã.

Tính chất đặc thù của thông điệp báo chí đó là nó được cấu thành từ các sự kiện và vấn đề thời sự và đang diễn ra. Có thông điệp tài liệu, thông điệp bộ phận và 17 thông điệp chung, thông điệp đích, thông điệp ẩn và thông điệp trực tiếp, thông điệp sự kiện và thông điệp lý lẽ. Từ các định nghĩa nêu trên, tác giả nhận thức khái niệm về thông điệp như sau: Thông điệp trên báo chí là những nội dung và hình thức thông tin mà báo chí muốn truyền tải đến một nhóm đối tượng cần truyền thông nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất những mục tiêu của chương trình, chiến dịch truyền thông đề ra. Quân sự và quân sự thế giới Theo Từ điển Bách khoa Quân sự việt Nam thì Quân sự theo nghĩa rộng “Là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội liên quan đến đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội hoặc lực lượng vũ trang” [52, tr.

Quân sự theo nghĩa hẹp “Là một trong những hoạt động cơ bản trong quân đội cùng với các hoạt động khác như chính trị, hậu cần, kỹ thuật… tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội” [52, tr. Cách hiểu của tác giả về thuật ngữ quân sự trong phạm vi luận văn này sẽ theo nghĩa rộng trong quan điểm trên. Như vậy, quân sự thế giới theo nghĩa rộng “Là lĩnh vực hoạt động đặc biệt liên quan đến đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội hoặc lực lượng vũ trang trên thế giới”. Khái niệm này sẽ được hiểu ở phạm vi quân sự tại các quốc gia, khu vực… trên thế giới, không bao gồm các lĩnh vực, hoạt động quân sự tại Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ