chương I đưa ra các nhân tố chủ quan, yếu tố khách quan có ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán biên mậu và giới thiệu một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng của loại hình dịch vụ ngân hàng này. VÀI NÉT VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC 1.1 Khái niệm: Hội nhập kinh tế khu vực là một phần của hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế có thể diễn ra 5 theo nhiều mức độ.
Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau: Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất. Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA).
Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối. Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan. Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế.
Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực 6 hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối). Ví dụ: EU hiện nay. Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Về cơ bản, hội nhập kinh tế khu vực cũng giống như hội nhập kinh tế quốc tế, tuy nhiên hội nhập kinh tế khu vực có một số điểm riêng khác như không gian hẹp hơn do số lượng thành viên ít hơn, nội dung hợp tác đa dạng hơn, các ràng buộc giữa các thành viên nhiều hơn.
Các bước phát triển của hội nhập kinh tế khu vực cũng tiến hành tuần tự từ thấp đến cao giống như hội nhập kinh tế quốc tế.2 Một số nét chung về khu vực kinh tế chung Trung Quốc – ASEAN: Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, các thể chế thương mại khu vực đòi hỏi phải có sự hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn giữa các bên nhằm vượt qua thách thức và tận dụng các cơ hội. Trong bối cảnh đó, ASEAN và Trung Quốc cần quyết tâm đưa ra một khuôn khổ hợp tác kinh tế toàn diện và hướng về tương lai nhằm đặt ra nền tảng pháp lý cho các hoạt động hợp tác kinh tế giữa hai bên, bao gồm một khu vực mậu dịch tự do. Việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ mang lại những cơ hội to lớn và cả những thách thức. Để bảo đảm thành công, ý chí chính trị là một yếu tố quyết định, do đó cần xây dựng một lộ trình và kế hoạch hành động cụ thể để Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sớm được thực hiện theo mong muốn của các nhà lãnh đạo hai bên.
Tại Hội nghị giữa những nhà lãnh đạo ASEAN - Trung Quốc tổ chức vào ngày 6 /11/ 2001 các nhà lãnh đạo Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã 7 đi đến nhất trí về việc thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong vòng 10 năm. Từ sau khi đạt được thỏa thuận thành lập ACFTA, hai bên đã nỗ lực xúc tiến các công tác thúc đẩy tiến trình ra đời của ACFTA. Với những nỗ lực của cả hai bên, ngày 4/ 11/ 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã chính thức ký bản hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, mở đường cho việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong 10 năm tới. Đây là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong thế kỷ này.
Hiệp định khung ra đời là bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của ASEAN và Trung Quốc, giúp cho các nước này không quá bị phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ. Mặt khác, việc thành lập một hiệp định mậu dịch tự do giữa hai bên và tăng cường quan hệ song phương lúc này là một quyết định sáng suốt của ASEAN và Trung Quốc trong quá trình theo đuổi những cơ hội phát triển mới. Cho đến nay quan hệ ASEAN-Trung Quốc đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực hợp tác như kinh tế, chính trị-an ninh, văn hóa- giáo dục… Kim ngạch thương mại hai chiều giữa ASEAN và Trung Quốc đã đạt trên 350 tỷ USD (2011). Trung Quốc liên tục là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, chiếm 11,6% kim ngạch thương mại của ASEAN với bên ngoài, trong khi đó ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ tư của Trung Quốc, chiếm gần 10% kim ngạch thương mại của Trung Quốc.
Hai bên đang phấn đấu đạt được kim ngạch thương mại hai chiều bằng 500 tỷ USD vào năm 2015. KHÁI QUÁT VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ. 8 Thông qua việc tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế khu vực và thị trường các nước ASEAN - Trung Quốc ờ phần trên, chúng ta có thể nhận thấy một trong những thước đo quan trọng để đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như hội nhập kinh tế khu vực của từng quốc gia đó chính là thương mại quốc tế, vậy thương mại quốc tế là gì? Ý nghĩa và các phương thức giao dịch trong thương mại quốc tế diễn ra như thế nào? Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu những vấn đề đó. Thương mại quốc tế được hiểu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán.
Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt giữa các quốc gia. Ý nghĩa của thƣơng mại quốc tế. Ngày nay, thương mại quốc tế có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển, giao lưu buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu của mọi quốc gia. Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, thương mại quốc tế ngày càng chứng tỏ được xem như một trong những công cụ hữu hiệu để một quốc gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.
Sự ra đời của thương mại quốc tế là kết quả tất yếu của quá trình phát triển. Khi mà sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tích cực hơn vào các quá trình liên kết và hợp tác kinh tế quốc tế, cùng với đó cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển mạnh, trở thành một nhân tố quyết định sự phát triển sản xuất, giúp cho năng suất lao động đạt cao hơn, tăng cường và nâng cao khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia. Nếu một quốc gia không chú ý phát triển thương mại quốc tế thì sự nhỏ hẹp của thị trường trong nước không đủ bảo đảm cho sự phát triển kinh tế với qui mô hiện đại, sản xuất hàng loạt, do đó không tạo thêm được việc làm kèm 9 theo đó các vấn đề liên quan đến tiếp thu các máy móc, nguyên vật liệu cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nước khác trên thế giới sẽ bị hạn chế nhiều, sự phát triển của quốc gia sẽ bị chậm lại, tụt hậu ngày càng xa đối với sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới. Sự phát triển hoạt động thương mại quốc tế sẽ tận dụng được tốt nhất sự phân công lao động xã hội, tận dụng được lợi thế so sánh của một quốc gia, đồng thời thương mại quốc tế cũng giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới như nhu cầu vốn, công nghệ, thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá, các kỹ năng quản lý… Đối với những nước mà trình độ kinh tế còn thấp như nước ta, những nhân tố thuộc tiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động.
Còn những nhân tố thiếu và còn yếu là vốn, kỹ thuật, thị trường và khả năng quản lý. Chiến lược "hướng vào xuất khẩu" về thực chất và giải pháp "mở cửa nền kinh tế" nhằm tranh thủ vốn và kĩ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng bên trong về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho đất nước, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước giàu.