mở đầu cho sự ra đời và phát triển của mạng VINAREN. Mạng VINAREN là mạng Nghiên cứu và Đào tạo quốc gia hoạt động phi lợi nhuận, chính thức khai trƣơng trên toàn quốc ngày 27/3/2008, do Trung tâm phát triển và quản lý. Mục tiêu của VINAREN là xây dựng và phát triển Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt nam kết nối với các mạng nghiên cứu và đào tạo của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới nhằm nâng cao hiệu quả, thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo thông qua TEIN2, TEIN3 với tốc độ từ 45 đến 155 Mbps. Thành viên VINAREN bao gồm các viện nghiên cứu, trƣờng đại học, bệnh viện và trung tâm thông tin hàng đầu trong nƣớc.
VINAREN kết nối các nhà nghiên cứu và đào tạo Việt Nam với cộng đồng 30 triệu nhà khoa học ở khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng, châu Âu và các khu vực khác. Sau một năm hoạt động, đến năm 2008 quy mô của VINAREN đã vƣơn tới hơn 50 trung tâm nghiên cứu và đào tạo quan trọng của đất nƣớc thuộc 11 tỉnh, thành phố. Năm 2008 cũng là năm thử nghiệm việc truy cập, khai thác các nguồn tin số hoá, trực tuyến trong nƣớc và quốc tế giữa các thành viên của VINAREN ở cả trong và ngoài nƣớc. Lần đầu tiên các CSDL KH&CN trong nƣớc do Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia xây dựng đƣợc đƣa lên mạng VINAREN để truy cập và khai thác theo chế độ mạng.
Tóm lại, có thể thấy quá trình ứng dụng CNTT tại Trung tâm TTKH&CNQG đã diễn ra rất sớm, nhanh chóng và hiệu quả. Tuy nhiên, các giai đoạn phát triển phụ thuộc vào sự phát triển chung trong lĩnh vực CNTT. Để có đƣợc những thành quả trên là nhờ có sự quan tâm ngày càng tăng của Nhà nƣớc đến lĩnh vực TT-TV. Bên cạnh đó cũng phải kể đến những nỗ lực không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ của Trung tâm trong việc thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT vào hoạt động.
Với những điều kiện về công nghệ hiện nay, trong một thời gian không xa nữa Trung 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm TTKH&CNQG có thể trở thành một Trung tâm thông tin/TVS tầm cỡ quốc tế. Để nắm bắt những cơ hội này, đòi hỏi phải có những nghiên cứu mang tính toàn diện và tuân theo xu hƣớng chung của thế giới, đó là tập trung nghiên cứu phát triển và quản lý nguồn TNS. Định hướng phát triển Trung tâm trong thời gian tới Để phấn đấu xây dựng Trung tâm trở thành tập đoàn dịch vụ công về thông tin KHCN, Trung tâm TTKH&CNQG đã đƣa ra 10 định hƣớng phát triển giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến 2015, trong đó hầu hết các nội dung đều liên quan đến việc xây dựng và quản lý nguồn TNSNS đó là: - Xúc tiến và phát triển thị trường công nghệ trong đó tập trung vào xây dựng CSDL đa phương tiện "Hồ sơ công nghệ" nhằm tư liệu hoá và giới thiệu, phổ biến thông tin về: + Kết quả nổi bật của các chƣơng trình, đề tài, dự án KHCN trọng điểm cấp Nhà nƣớc qua các giai đoạn. + Hồ sơ các công nghệ sẵn sàng cho chuyển giao, nhân rộng.
+ Phim tƣ liệu KHCN. + Hồ sơ các phát minh, sáng chế có tính đột phá của KHCN thế giới. - Phát triển hệ thống thông tin KHCN nông thôn thông qua việc tăng cường cung cấp thông tin KHCN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, theo hướng: + Hỗ trợ các địa phƣơng nhân rộng mô hình cung cấp thông tin KHCN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại cơ sở (xã, phƣờng). + Xây dựng và phát triển mô hình phổ biến tri thức khoa học và thông tin chuyển giao công nghệ tuyến quận, huyện.
+ Hình thành và phát triển Mạng thông tin KHCN nông thôn, miền núi hoạt động trên quy mô toàn quốc (từ Trung ƣơng tới cơ sở). - Phát triển dịch vụ thông tin KHCN phục vụ các doanh nghiệp theo hướng: + Phát triển Ngân hàng cung cấp thông tin KHCN phục vụ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Triển khai dịch vụ thông tin cảnh báo cạnh tranh và cảnh báo chiến lƣợc nhằm hỗ trợ phát triển các ngành hàng chủ lực của Việt Nam. + Triển khai các dịch vụ tra cứu - chỉ dẫn thông tin theo yêu cầu của các doanh nghiệp.
+ Hình thành và phát triển Mạng thông tin KHCN phục vụ các doanh nghiệp. - Hiện đại hoá và nâng cao chất lượng hoạt động của Thư viện Trung ương của cả nước về KHCN với các nội dung: + Tổ chức và triển khai Dịch vụ cung cấp tài liệu theo yêu cầu + Phát triển liên kết bổ sung và chia sẻ nguồn tin KHCN (Vietnam Consortium on STI Resources). - Hoàn thiện và phát triển Mạng thông tin KHCN Việt Nam - Trung tâm liên kết mạng lưới các tổ chức dịch vụ thông tin KHCN theo hướng: + Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống phần mềm theo hƣớng một Cổng thông tin tổng hợp về KHCN của Việt Nam. + Phát triển các nội dung số hoá theo hƣớng chuyên nghiệp và hiện đại.
+ Thƣờng xuyên nâng cấp năng lực truy cập, lƣu giữ, xử lý, an ninh và phổ biến thông tin trên mạng. - Triển khai Trung tâm đăng ký, lưu giữ và phổ biến các kết quả nhiệm vụ KHCN trong đó tập trung vào việc: + Xây dựng và vận hành CSDL toàn văn về các đề tài, dự án. + Tổ chức phổ biến, cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ về các đề tài, dự án KHCN đang tiến hành và thông tin về kết quả các nhiệm vụ KHCN đã hoàn thành. - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phân tích thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý với các nội dung: + Thực hiện tốt nhiệm vụ đầu mối cung cấp thông tin phân tích cho các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nƣớc.
+ Thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp nội dung về KHCN trên Website của Chính phủ. - Xây dựng Thư viện điện tử quốc gia về KHCN trong đó tập trung vào việc xây dựng và triển khai bước đầu dự án Thư viện điện tử quốc gia về KH&CN tại khuôn 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên 24-26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội theo hướng một Tổ hợp dịch vụ công về thông tin KHCN, bao gồm: + Thƣ viện điện tử Trung ƣơng của cả nƣớc về KHCN với vai trò đầu mối liên kết trung tâm (Central Hub) của Hệ thống thông tin quốc gia về KHCN, đủ sức phục vụ hàng vạn ngƣời tại chỗ và hàng triệu ngƣời qua mạng. + Trung tâm giao dịch quốc gia về công nghệ - trung tâm thúc đẩy thƣơng mại hoá sản phẩm KHCN và cầu nối các nhà khoa học và các doanh nghiệp. + Trung tâm giao lƣu, hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế.
+ Bảo tàng Trung ƣơng về KHCN của Việt Nam. Tầm nhìn đến năm 2015 Tới năm 2015, Trung tâm Thông tin KHCN Quốc gia phấn đấu trở thành Tập đoàn dịch vụ công về thông tin KHCN, trong đó có: - Thƣ viện điện tử quốc gia về KHCN đạt trình độ tiên tiến trong khu vực; - Ngân hàng dữ liệu quốc gia cung cấp thông tin KHCN cần thiết cho các doanh nghiệp, các tổ chức KHCN; - Trung tâm xúc tiến thị trƣờng công nghệ, bao hàm Sàn giao dịch điện tử về công nghệ, Techmart Việt Nam, Techmart khu vực,.; - Mạng thông tin KHCN Việt Nam - mạng nòng cốt của Hệ thống thông tin quốc gia về KHCN. - Trung tâm nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực về thông tin KHCN; - Bảo tàng quốc gia về KHCN góp phần giáo dục truyền thống và nâng cao nhận thức của xã hội về KHCN. Tầm quan trọng của nguồn tài nguyên số nội sinh đối với sự phát triển Trung tâm 1.
Một số khái niệm Để tìm hiểu khái niệm nguồn TNSNS, cần có cách hiểu đúng đắn về TNS, TLS và BSTS. Trong đó cần phân biệt rõ khái niệm TLS và TNS. Tài nguyên số Hiện tại vẫn chƣa có khái niệm rõ ràng về TNS. Tuy nhiên, TNS đƣợc hiểu là toàn bộ thông tin do con ngƣời tạo ra dƣới hình thức số hoá nhằm mục đích phục 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ cho những lợi ích của con ngƣời.
Nguồn TNS có thể tồn tại dƣới nhiều dạng khác nhau (dạng văn bản, dạng hình ảnh và âm thanh hoặc kết hợp hai hay ba dạng trên). Nguồn TNS cũng có thể tồn tại dƣới dạng thƣ mục hay dạng toàn văn. Tài liệu số Theo từ điển giải nghĩa của Mindwrap, “Tài liệu số” là những tài liệu đƣợc lƣu giữ bằng máy tính. TLS có thể đƣợc tạo lập bởi máy tính nhƣ việc xử lý các file văn bản, các bảng biểu hoặc chúng có thể đƣợc chuyển đổi sang dạng số từ những tài liệu dạng khác.
TLS cũng đƣợc đề cập đến nhƣ là tài liệu điện tử. Từ định nghĩa trên cho thấy, TLS đƣợc xây dựng thông qua hai kênh: - Kênh 1: Tạo lập tài liệu gốc bằng máy tính thông qua việc xử lý các file văn bản, hình ảnh, bảng biểu,… - Kênh 2: Tạo lập TLS thông qua hình thức chuyển đổi định dạng các tài liệu đã đƣợc tạo lập ở dạng khác nhƣ (Scan, ghi âm,…) Tóm lại có thể hiểu TLS là tất cả những tài liệu đƣợc trình bày dƣới dạng số mà máy tính có thể đọc đƣợc. Phân biệt giữa tài nguyên số và tài liệu số Hiện nay, vẫn chƣa có sự lý giải xác đáng nào về sự phân biệt hai khái niệm trên. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng: + TLS thuộc về nguồn TNS + Một số dạng của TNS không phải là TLS Thí dụ: Một biểu ghi thƣ mục trên máy tính không thể coi là TLS bởi vì bản thân một biểu ghi thƣ mục không đƣợc coi là một tài liệu.
Do vậy, khi chúng ta đề cập đến vấn đề “biên mục cho tài liệu số” các biểu ghi thƣ mục sẽ không thuộc diện đối tƣợng biên mục. Bộ sưu tập số Theo từ điển giải nghĩa các thuật ngữ khoa học của trƣờng Đại học Bay Lor, “bộ sưu tập số là bộ sưu tập của thư viện hoặc các tài liệu lưu trữ được chuyển đổi sang định dạng thuật ngữ máy tính nhằm mục đích bảo quản hoặc phục vụ truy cập điện tử” 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, bộ sƣu tập số đƣợc hiểu là “ một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu đã được số hoá dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, Audio, Video…) về một chủ đề.